Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHĨA LỘ

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 12/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Tý

Ông Hoàng Văn Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc, Thư ký TAND thị xã Nghĩa Lộ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên tòa: Ông Lò Văn Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Hà Văn N, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16/6/1975 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn P, sinh năm 1943 và bà Lò Thị H, sinh năm 1945; Vợ là Hoàng Thị T và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: QĐ số 05/2019/QĐ-TA ngày 05/3/2019 của TAND huyện Văn Chấn Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 15 tháng (ngày 06/11/2021 chấp hành xong).

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/5/2024, tạm giam ngày 11/5/2024, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Lò Văn T1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

Anh Hà Văn Á, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

Anh Đinh Văn X, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 50 phút ngày 08/5/2024 tổ công tác phòng cảnh sát điều tra tội phạm công an tỉnh Y phát hiện tại nhà ở của Hà Văn N thuộc thôn C, xã T, thị xã N có N, Hà Văn Á và Đinh Văn X đang tụ tập nghi vấn mua bán trái phép chất ma túy nên tiến hành khống chế, kiểm tra. Nghiêm tự giác lấy từ trong túi quần đang mặc ra giao nộp 01 ví giả da bên trong có 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, trong gói giấy có chứa chất bột nén màu trắng và số tiền 200.000đồng. N khai nhận số chất bột nén đó là ma túy loại Heroin của N đang định bán cho Á và X nhưng chưa giao dịch xong thì bị bắt, số tiền thu giữ là tiền vừa nhận của Á và X để mua 02 gói ma túy. Á và X cùng thừa nhận vừa đưa cho N mỗi người 100.000đồng để mua ma túy sử dụng nhưng chưa nhận được ma túy thì bị phát hiện.

Cùng ngày cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Hoàng Văn N1, thu giữ được 04 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong các gói đều có chứa chất bột nén màu trắng; 01 quyển vở ô ly.

Quá trình điều tra Hà Văn N khai do là người nghiện chất ma túy nên ngày 01/5/2024 N đi đến thôn M, xã T, huyện T tìm và mua được của người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy giá 1.000.000đồng, sau đó đem về chia thành các gói nhỏ nhưng không nhớ rõ được bao nhiêu gói với mục đích để sử dụng và bán lại thu lợi nhuận. Từ ngày 02/5/2024 đến ngày 08/5/2024 N đã bán ma túy cho các đối tượng, cụ thể:

Trưa ngày 02/5/2024 Lò Văn T1 đến nhà N hỏi mua ma túy, N đồng ý và bán cho T1 01 gói với giá 100.000đồng.

Khoảng 10 giờ ngày 05/5/2024 Hà Văn Á và Đinh Văn X cùng đến nhà N hỏi mua ma túy, Á đưa 100.000đồng trước sau đó X đưa tiếp 100.000đồng, N cầm 200.000đồng cất vào túi quần sau đó lấy 02 gói ma túy đưa cho Á và X mỗi người 01 gói.

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 08/5/2024 Hà Văn Á và Đinh Văn X lại đến nhà N hỏi mua ma túy. Mỗi người đưa cho N 100.000đồng để mua 01 gói ma túy, N cầm tiền cho vào túi quần đang định lấy ma túy từ trong ví ra đưa cho Á và X thì bị công an phát hiện bắt quả tang.

Tiến hành điều tra với Lò Văn T1, Hà Văn Á và Đinh Văn X đã chứng minh được do là những người nghiện chất ma túy nên đã đến nhà N hỏi mua ma túy để sử dụng. T1 mua 01 gói ma túy giá 100.000đồng ngày 02/5/2024. Á và X rủ nhau mua 02 lần, lần 1 ngày 05/5/2024 cùng nhau mua được mỗi người 01 gói, sau khi mua đã đem về sử dụng hết. Ngày 08/5/2024 cả hai cùng đến hỏi mua nhưng chưa nhận được ma túy thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra N khai ngày 07/5/2024 còn bán cho Đồng Văn T2 nhà ở cùng thôn C 01 gói ma túy giá 50.000đồng, việc mua bán chỉ có hai người không có người làm chứng. Cơ quan điều tra đã xác minh tại thôn C nhưng không có ai tên là Trở nên không có cơ sở để kết luận về hành vi đó của N.

Tại bản kết luận giám định số 264A/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y đã kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang N có khối lượng là 0,51 gam, là ma túy loại Heroine. Chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét nhà N có khối lượng 0,22 gam là ma túy loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 261/KL-KTHS ngày 14/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y đã kết luận: 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000đồng gửi giám định là tiền thật.

Cáo trạng số: 37/CT-VKS-NL ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố Hà Văn N về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích mục đích, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, giữ nguyên quan điểm của cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,53 gam ma túy loại Heroine, 03 vỏ phong bì thư, giấy gói và 01 ví giả da, 01 quyển vở học sinh; tịch thu sung quỹ số tiền 200.000đồng, truy thu của bị cáo 300.000đồng.

Tại phiên tòa bị cáo khai đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy đúng như Cáo trạng đã truy tố, không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật và các vấn đề khác do Kiểm sát viên đề nghị. Lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt, đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã được công bố lời khai trong hồ sơ, bị cáo thừa nhận lời khai của những người làm chứng là hoàn toàn đúng sự thật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như những lời khai của bị cáo, người làm chứng trong quá trình điều tra. Đã có đủ căn cứ chứng minh được, với mục đích có ma túy để sử dụng và bán lại thu lợi bất chính nên Hà Văn N đã mua ma túy về chia thành các gói nhỏ cho dễ sử dụng và bán lẻ lại cho các đối tượng nghiện. Ngày 02/5/2024 bán 01 gói ma túy cho Lò Văn T1 thu 100.000đồng, ngày 05/5/2024 cùng một lúc bán cho Hà Văn Á và Đinh Văn X mỗi người 01 gói thu 200.000 đồng, ngày 08/5/2024 cùng một lúc nhận của Á và X mỗi người 100.000 đồng để bán cho mỗi người 01 gói ma túy nhưng chưa kịp đưa ma túy thì bị bắt. Toàn bộ những lần bị cáo bán ma túy đều được thực hiện tại nhà bị cáo thuộc thôn C, xã T, thị xã N. Như vậy, từ ngày 02/5/2024 đến ngày 08/5/2024 bị cáo N đã hoàn thành bán 02 lần 03 gói ma túy thu được 300.000đồng, 01 lần đang giao dịch mua bán 0,51 gam Heroin thì bị bắt. Ngoài ra bị cáo cất giấu 0,22 gam Heroine nhằm mục đích bán thu lợi.

Hành vi mua bán chất ma túy của bị cáo N là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách kiểm soát, chế độ quản lý độc quyền, sản xuất các chất ma túy của Nhà nước, góp phần làm gia tăng người nghiện chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là chất gây nghiện có tác động rất xấu đến sức khỏe người sử dụng và là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác nên nhà nước ta đã tuyên truyền giáo dục và quy định chế tài phạt nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết được việc sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm và có hình phạt rất cao nhưng vì nhu cầu của bản thân và mục đích thu lợi bất chính nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện mua bán chất ma túy nhiều lần nên đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy. Với hành vi 03 lần trao đổi mua bán ma túy trong đó đã hoàn thành 02 lần, có 01 lần bị cáo cùng lúc bán ma túy cho Á và X và 01 lần đang giao dịch với cả hai người do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra bị cáo còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với lượng ma túy cất giấu nhằm mục đích bán thu lợi bất chính.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội thành khẩn khai báo” và “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự do tự khai ra hành vi phạm tội của mình khi chưa bị ai phát hiện và khai báo cụ thể rõ ràng về hành vi của mình trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa.

Về nhân thân: Bị cáo đã 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng sau khi chấp hành xong vẫn tái nghiện, để có ma túy sử dụng đã phạm tội vì vậy xác định là người có nhân thân chưa tốt.

[4] Với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự thấy rằng tội phạm bị cáo phạm phải là tội rất nghiêm trọng nên cần phải áp dụng hình phạt tù, mức hình phạt tương xứng với tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Do vậy cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tại trại giam, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện có hiệu quả. Hình phạt còn có tính răn đe, phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là tội phạm về ma túy.

Theo xác minh tại địa phương và lời khai tại phiên tòa thì bị cáo không có tài sản riêng, tài sản chung với gia đình là căn nhà có diện tích 60m² và các vật dụng sinh hoạt hàng ngày, vì vậy nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng và tài sản tạm giữ:

  • - 0,73 gam ma túy loại Heroine, cơ quan giám định đã lấy 0,2 gam làm mẫu giám định, còn lại 0,53 gam cần tịch thu tiêu hủy vì đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
  • - 03 vỏ phong bì và các mảnh giấy gói, 01 quyển vở học sinh đã qua sử dụng và 01 ví giả da đã qua sử dụng là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Số tiền 200.000đồng thu giữ của bị cáo đã chứng minh được là tiền bị cáo nhận của Á và X để bán ma túy vì vậy nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Truy thu của bị cáo số tiền 300.000đồng thu được từ hành vi bán ma túy cho T1 ngày 02/5/2024, bán cho Á và X ngày 05/5/2024.

[6] Về nguồn gốc ma túy bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực thôn M, xã T, huyện T nhưng không biết rõ họ tên và địa chỉ, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có đủ manh mối, cơ sở để điều tra xử lý.

Đối với Lò Văn T1, Hà Văn Á và Đinh Văn X là người mua ma túy của bị cáo để sử dụng. Số ma túy mua được đã sử dụng hết vì vậy ngày 15/5/2024 Công an tỉnh Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy đối với cả ba người là phù hợp với quy định.

[7] Những đề nghị Kiểm sát viên có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[8] Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

    Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Hà Văn N 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/5/2024

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 0,53 gam ma túy loại Heroine; 01 chiếc ví giả da màu đen, đã qua sử dụng; 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong và các mảnh giấy gói; 01 quyển vở học sinh ô ly đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu của bị cáo 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) để sung nộp Ngân sách Nhà nước.
    • - Truy thu của bị cáo số tiền 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) để sung nộp Ngân sách Nhà nước.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ ngày 04/9/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ)

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Hà Văn N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TX Nghĩa Lộ;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Công an TX Nghĩa Lộ;
  • - CCTHADS TX Nghĩa Lộ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - UBND xã Thạch Lương (TB);
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - THA HS; Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Ngh mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger