Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 12 - 7 - 2024

V/v: tranh chấp Hôn nhân và gia đình (N - G)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Văn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Tô Thị Hương

Ông Vũ Văn Quảng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Trần Quỳnh Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2024/TLST - HNGĐ ngày 29/5/2024 về tranh chấp "Hôn nhân và gia đình". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXX - ST ngày 20/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2024/QĐST - HNGĐ ngày 05/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thái Thị N - sinh năm 1979

Địa chỉ: thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn:Anh Phạm Thế G - sinh năm 1976

Địa chỉ: số nhà D, ngõ A, đường T, tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Chị N có đơn xét xử vắng mặt, anh G vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thái Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Thế G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 31/01/1997. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng vài năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong mọi vấn đề của cuộc sống. Anh G không tu chí làm ăn, mải chơi phá tán kinh tế gia đình. Chị đã cố gắng nhẫn nhịn, sống vì các con nhưng đến nay chị không thể chịu đựng được nữa. Mặt khác gia đình nhà anh còn gây áp lực cho chị về kinh tế khi yêu cầu chị phải bỏ tiền ra để mua lại diện tích đất mà bố mẹ chồng cho anh chị xây dựng nhà trên đó. Mâu thuẫn căng thẳng nên chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 02/2023 cho đến nay cũng từ thời điểm này anh chị sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không mang lại hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Thế G.

Về con chung: Chị và anh Phạm Thế G có 02 con chung là Phạm Thị Hồng N1 – sinh ngày 29/01/1998 và Phạm Thái Hoàng A – sinh ngày 04/02/2000. Hiện tại cháu N1 đã có gia đình riêng, cháu Hoàng A đang xuất khẩu lao động bên Nhật Bản. Các cháu đã trưởng thành, tự chăm lo được cuộc sống của mình nên ly hôn không yêu cầu Toà án giải quyết về mặt nuôi dưỡng các con.

Về quan hệ tài sản: Chị và anh Phạm Thế G không có tài sản chung, không có nợ chung và không cho ai vay nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai ông Phạm Giang N2 là bố đẻ bị đơn anh Phạm Thế G, ông trình bày:

Về hôn nhân: Về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn như chị N trình bày ở trên. Quá trình chung sống thì anh chị có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp. Mâu thuẫn căng thẳng dẫn đến từ tháng 02/2023 chị N tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và anh G, chị N sống ly thân từ đó cho đến nay. Mong muốn của ông và gia đình đề nghị Toà án tiến hành hoà giải để chị N, anh G về chung sống cùng nhau để các con có cả bố mẹ. Hiện tại anh G đang đi làm ăn ở tỉnh khác, cụ thể địa chỉ như thế nào ông không biết.

Về con chung: chị N, anh G có 02 con chung như chị N trình bày, hiện các cháu đã trưởng thành, tự chăm lo được cho bản thân vì vậy ly hôn không đặt ra vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Theo ông được biết thì chị N, anh G không có tài sản gì chung.

* Xác minh tại UBND thị trấn T, tỉnh Thái Bình: Chị Thái Thị N và anh Phạm Thế G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T ngày 31/01/1997. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng nhau tại Tổ dân phố số A, thị trấn T. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, tuy nhiên cụ thể mâu thuẫn vì nguyên nhân gì thì địa phương không nắm bắt được. Hiện nay chị N, anh G đã sống ly thân nhau. Về con chung: chị N, anh G có 02 con chung là Phạm Thị Hồng N1 – sinh ngày 29/01/1998 và Phạm Thái Hoàng A – sinh ngày 04/02/2000. Nay chị N đề nghị ly hôn, quan điểm của thị trấn là đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền lợi ích cho các đương sự. Về tài sản của anh, chị địa phương không nắm bắt được.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự đều tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX, áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị N, xử cho chị được ly hôn anh Phạm Thế G.
  • + Về quan hệ con chung: Chị Thái Thị N và anh Phạm Thế G có 02 con chung là Phạm Thị Hồng N1 – sinh ngày 29/01/1998 và Phạm Thái Hoàng A – sinh ngày 04/02/2000. Các cháu đã trưởng thành, tự chăm sóc được bản thân. Ly hôn không đặt ra vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
  • + Về quan hệ tài sản chung: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này mà sẽ được đặt ra giải quyết khi một trong các bên có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Thái Thị N và anh Phạm Thế G là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh G có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình do đó yêu cầu khởi kiện này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là đúng với quy định tại Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị N và anh Phạm Thế G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 31/01/1997 đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc đến khoảng mấy năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong mọi vấn đề của cuộc sống. Từ mâu thuẫn giữa anh, chị dẫn đến mâu thuẫn giữa chị N và gia đình anh G. Mâu thuẫn căng thẳng dẫn đến chị N đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 02/2023 cho đến nay cũng từ thời điểm này anh chị sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Mong muốn của gia đình anh G là vợ chồng anh chị về đoàn tụ. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án anh G không đến Toà án, không có mặt để Toà án hoà giải đoàn tụ vợ chồng. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị N, anh G đã trầm trọng, anh chị không còn tình cảm dành cho nhau, hôn nhân đã không thể hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị N, xử cho chị Thái Thị N được ly hôn anh Phạm Thế G là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
    2. Về con chung: Chị Thái Thị N và anh Phạm Thế G có 02 con chung là Phạm Thị Hồng N1 – sinh ngày 29/01/1998 và Phạm Thái Hoàng A – sinh ngày 04/02/2000. Do các cháu đã trưởng thành, có gia đình riêng, có công việc ổn định và tự chăm lo được cho bản thân. Vì vậy ly hôn không đặt ra giải quyết về việc chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu.
    3. Về tài sản chung: Do không có trình bày của anh Phạm Thế G về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Chị N trình bày vợ chồng không có tài sản gì chung. Vì vậy vấn đề tài sản không đặt ra giải quyết trong vụ án này và sẽ được đặt ra xem xét giải quyết khi một trong các bên đương sự có yêu cầu trong vụ án khác.
  3. Về án phí: Chị Thái Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Thái Thị N được ly hôn anh Phạm Thế G.
  2. Về quan hệ con chung: Chị Thái Thị N và anh Phạm Thế G có 02 con chung là Phạm Thị Hồng N1 – sinh ngày 29/01/1998 và Phạm Thái Hoàng A – sinh ngày 04/02/2000. Các cháu đã trưởng thành, không đặt ra việc chăm sóc, nuôi dưỡng khi ly hôn.
  3. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
  4. Về án phí: chị Thái Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ chị N đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002660 nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 29/5/2024 sang thi hành án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Thái Thị N, anh Phạm Thế G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

*Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKS huyện Tiền Hải;
  • - THADS huyện Tiền Hải;
  • - UBND TT Tiền Hải, h. Tiền Hải;
  • - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ - ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ng-G ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger