|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 12-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Cao Văn Tân
Bà Đặng Thị Đôi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ Công an huyện K) xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Văn K, sinh ngày 10/11/1995 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn K1 và bà Đặng Thị N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/4/2024, đến ngày 08/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 04/4/2024, Ngô Văn K đi taxi đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng mua 800.000 đồng ma túy đá với 01 người đàn ông khoảng 45 tuổi không quen biết. Người này đưa cho K 01 túi nilon bên trong có 02 túi nilon kích thước 03x03cm chứa ma túy đá và 01 túi nilon kích thước 06x04cm đựng 04 ống nhựa màu tím, xanh lá cây được hàn kín hai đầu có chứa ma túy đá. Khiển cất giấu số ma túy vừa mua được trong người và đi taxi về nhà.
Khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, K lấy 01 túi nilon kích thước 03x03cm chứa ma túy đi ra nhà vệ sinh sử dụng hết. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, K tiếp tục lấy ma túy đi ra cổng định tiếp tục sử dụng thì bị Công an huyện K kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Khiển 01 đoạn ống nhựa màu tím được hàn kín hai đầu dài 02cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (niêm phong ký hiệu M1). Kiểm tra, thu giữ trong ví da màu nâu ở túi quần phía sau bên phải của K có 01 túi nilon kích thước 03x03cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (niêm phong ký hiệu M2).
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Văn K phát hiện, thu giữ tại rổ đựng hoa quả trên mặt bể nước ở khu vực sân 01 túi nilon kích thước 06x04cm, bên trong chứa 03 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu, kích thước 2,5x01cm, đều chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (niêm phong ký hiệu MK).
Tiến hành kiểm tra mẫu nước tiểu của Ngô Văn K dương tính với ma túy Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 419/KL-KTHS ngày 08/4/2024 của Phòng K2 - Công an thành phố H kết luận: Tinh thể của mẫu M1 là Methamphetamine, có khối lượng 0,14 gam; Tinh thể của mẫu M2 là Methamphetamine, có khối lượng 0,09 gam; Tinh thể của mẫu MK là Methamphetamine, có khối lượng 0,30 gam.
Vật chứng thu giữ còn lại gồm: 0,05 gam Methamphetamine của mẫu M1; 0,04 gam Methamphetamine của mẫu M2; 0,18 gam Methamphetamine của mẫu MK cùng toàn bộ vỏ bao gói của ba mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy, dấu niêm phong 419MT/PC09 của Phòng K2 Công an thành phố H và 01 ví da màu nâu, kích thước 10x8cm, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy để xử lý theo vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSKT ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Ngô Văn K mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo K không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: 0,05 gam Methamphetamine của mẫu M1; 0,04 gam Methamphetamine của mẫu M2; 0,18 gam Methamphetamine của mẫu MK cùng toàn bộ vỏ bao gói của ba mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy, dấu niêm phong 419MT/PC09 của Phòng K2 Công an thành phố H và 01 ví da màu nâu, kích thước 10x8cm.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo đồng ý và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường nơi xảy ra vụ án, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 04/4/2024, tại thôn X, xã T, huyện K, Ngô Văn K có hành vi cất giấu 0,53 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt giữ. Như vậy, hành vi của Ngô Văn K đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây nên tệ nạn ma túy. Cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo; đồng thời để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: 0,05 gam Methamphetamine của mẫu M1; 0,04 gam Methamphetamine của mẫu M2; 0,18 gam Methamphetamine của mẫu MK cùng toàn bộ vỏ bao gói của ba mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy, dấu niêm phong 419MT/PC09 của Phòng K2 Công an thành phố H là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và 01 ví da màu nâu, kích thước 10x8cm bị cáo dùng để cất giấu ma túy; cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Trong vụ án này, Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi địa chỉ của người đàn ông bán ma túy cho Ngô Văn K, nên tiếp tục xác minh xử lý sau là đúng pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn K 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 0,05 gam Methamphetamine của mẫu M1; 0,04 gam Methamphetamine của mẫu M2; 0,18 gam Methamphetamine của mẫu MK cùng toàn bộ vỏ bao gói của ba mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy, dấu niêm phong 419MT/PC09 của Phòng K2 Công an thành phố H và 01 ví da màu nâu, kích thước 10x8cm (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngà |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Cao Văn Tân |
Đặng Thị Đôi |
Phạm Thị Ngà |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn K
