TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/DS-ST
Ngày: 12-4-2024
V/v Tranh chấp về nợ hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Phước Tâm.
2. Bà Nguyễn Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong các ngày 06 tháng 3 và ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 996/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp về nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2024/ĐST-DS ngày 22 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim H - sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Anh Lê Thanh T - sinh năm 1988, địa chỉ: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và anh Phạm Hoàng G - sinh năm 1979, địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 09/10/2023).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1958; Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Anh Trần Huỳnh V - sinh năm 1986, địa chỉ: Tổ D, khóm A, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 11/4/2024).
(Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Kim H ủy quyền cho anh Lê Thanh T và anh Phạm Hoàng G cùng trình bày như sau:
Chị H có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị L làm chủ hụi, cụ thể: Hụi tháng 2.000.000 đồng, khui ngày 20/10/2022 âm lịch (nhằm ngày 13/11/2022 dương lịch), có 24 phần, chị H tham gia 02 phần, mỗi tháng chị H đều có đóng hụi đầy đủ.
Phần 01 chị H đóng được 11 lần với số tiền 22.000.000 đồng.
Phần 02 chị H cũng đóng được 11 lần với số tiền 22.000.000 đồng.
Dây hụi nói trên vẫn chưa mãn và chị H vẫn chưa hốt hụi lần nào. Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì mà bà Nguyễn Thị L không cho chị H được tiếp tục đóng hụi cho các phần hụi mà chị H tham gia. Chị H nhiều lần yêu cầu được tiếp tục đóng hụi cho 02 phần hụi mà chị H đã tham gia, tuy nhiên bà L nhất quyết không cho chị H tham gia.
Theo đơn khởi kiện, chị H yêu cầu bà L phải trả lại số tiền hụi sống của 02 phần hụi mà chị H đã đóng, tổng cộng số tiền là 44.000.000 đồng (bốn mươi bốn triệu đồng).
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của chị H thống nhất việc bị đơn thừa nhận chị H có đóng hụi sống 10 lần nên đã thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc bà L phải có trách nhiệm trả số tiền hụi 2.000.000 đồng x 10 tháng x 02 phần hụi sống tương đương với số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
* Bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày như sau: Bà có làm chủ hụi của dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 20/10/2022 âm lịch, dây hụi có 24 phần, trong đó chị H tham gia 02 phần.
Dây hụi này chị H đã hốt hụi ngày 20/5/2023 âm lịch (tức kỳ thứ 8), chị H bỏ 450.000 đồng, bà đã giao tiền hụi cho chị H với số tiền 36.900.000 đồng (trong đó có 08 phần hụi chết với số tiền là 16.000.000 đồng, 14 phần hụi sống với số tiền là 21.700.000 đồng, tiền hoa hồng là 800.000 đồng). Bà giao tiền hụi cho bà H ngày 25/5/2023 âm lịch, lúc giao tiền chỉ có bà và chị H, không có ai khác chứng kiến, do chỗ quen biết nên bà và bà H không có làm giấy tờ gì. Đối với phần hụi này, chị H còn phải đóng hụi chết 15 lần với số tiền là 30.000.000 đồng. Từ khi hốt hụi đến nay thì chị H không đóng hụi chết lần nào.
Đến tháng 06/2023 âm lịch (tức kỳ thứ 9), chị P được hốt hụi, tại kỳ thứ 9 này thì chị H đóng hụi cho bà số tiền 3.040.000 đồng; chị H đóng tiền hụi cho bà bằng hình thức chuyển khoản thông qua chị Võ Thị Hồng N (chị N cũng là hụi viên trong dây hụi này), lý do chị N chuyển khoản cho bà vì lúc đó bà không gặp trực tiếp chị H nên chị H đưa tiền mặt cho chị N để chuyển khoản cho bà. Số tiền chị H chuyển khoản cho bà là 02 phần hụi sống nhưng thực tế chị H phải đóng 01 phần hụi sống và 01 phần hụi chết, do sơ ý nên bà không để ý số tiền mà chị N chuyển khoản còn thiếu, đến sau này kiểm tra tài khoản thì mới biết là chị H đóng hụi thiếu.
Đến tháng 07/2023 âm lịch (tức kỳ thứ 10), anh T1 bỏ 500.000 đồng nên được hốt hụi, ngày 25/7/2023 bà gặp chị H tại quán C ở thị trấn M để lấy tiền hụi (có sự chứng kiến của chị N), chị H đóng trực tiếp cho bà số tiền 3.000.000 đồng, lúc này bà cho rằng chị H phải đóng 01 phần hụi chết và 01 phần hụi sống nhưng chị H cho rằng cả 02 phần đều còn sống nên xảy ra tranh chấp.
Sau đó bà và chị H thỏa thuận cấn trừ 01 phần hụi sống vào 01 phần hụi chết của dây hụi này, việc hai bên thỏa thuận không có lập thành văn bản, chỉ nói miệng với nhau. Nay bà cho rằng không còn nợ gì đối với chị H nên bà không đồng ý trả lại số tiền hụi 40.000.000 đồng cho chị H.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm bản Bản sao sổ hụi mở ngày 20/10/2022 âm lịch; tại phiên tòa bị đơn giao nộp 05 tờ giấy dạng A4 có chữ và số, bị đơn cho rằng đây là danh sách các dây hụi khác với dây hụi trong vụ án này; đồng thời bị đơn có giao nộp và 01 đôi giấy tập nhãn hiệu “Nghệ Xương) có chữ và số màu xanh, bị đơn cho rằng danh sách các hụi viên và thời gian hốt hụi đối với dây hụi đang tranh chấp; các đương sự đều đã được tiếp cận nhưng không yêu cầu sao chụp lại các tài liệu, chứng cứ như đã nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả số tiền hụi là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Do đó, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp về nợ hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 Bộ luật dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Do nơi cư trú bị đơn ở xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Kim H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị L phải có trách nhiệm trả số tiền nợ hụi là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng); Hội đồng xét xử nhận định:
[4] Tại phiên tòa sơ thẩm, phía nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất việc chị Nguyễn Kim H có tham gia dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 20/10/2022 âm lịch do bà Nguyễn Thị L là đầu thảo, dây hụi có 24 phần, chị H tham gia 02 phần. Như vậy thuộc tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Nguyên đơn cho rằng từ khi khui hụi đến nay vẫn chưa hốt hụi lần nào, trong khi đó phía bị đơn cho rằng nguyên đơn đã hốt hụi một phần (một phần đã chết) vào kỳ thứ 8 tức ngày 20/5/2023 âm lịch và đã giao tiền cho nguyên đơn xong, bị đơn cho rằng việc giao tiền hụi không có xác lập biên nhận và cũng không có ai chứng kiến nên không có gì chứng minh.
[6] Đến kỳ khui hụi tiếp theo kỳ thứ chín vào ngày 20/6/2023 âm lịch thì nguyên đơn có đóng hụi cho bị đơn số tiền 3.040.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản, số tiền này tương đương với 02 phần hụi sống nhưng bị đơn không có ý kiến gì và cho rằng do sơ ý không kiểm tra tài khoản nên không phát hiện việc nguyên đơn chuyển tiền hụi còn thiếu, lẻ ra nguyên đơn phải đóng tiền một phần hụi sống và một phần hụi chết. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc bị đơn trình bày việc không kiểm tra tài khoản và không biết số tiền nguyên đơn đã chuyển bao nhiêu là chưa phù hợp.
[7] Ngày 20/7/2023 âm lịch thì tiếp tục khui hụi kỳ thứ 10, anh T1 bỏ thăm 500.000 đồng nên được hốt hụi. Tại kỳ khui hụi này, nguyên đơn đóng hụi trực tiếp cho bị đơn số tiền 3.000.000 đồng tương đương với 02 phần hụi sống, bị đơn đã nhận tiền của nguyên đơn nhưng bị đơn cho rằng nguyên đơn phải đóng một phần sống và một phần chết mới đúng còn phía nguyên đơn lại cho rằng nguyên đơn chưa hốt hụi lần nào nên vẫn còn hai phần hụi sống nên hai bên phát sinh tranh chấp. Tuy nhiên, khi bị đơn phát hiện nguyên đơn đóng tiền hụi thiếu vẫn giữ số tiền mà nguyên đơn đã đóng mà không có động thái gì để xử lý hoặc trả lại tiền cho nguyên đơn.
[8] Đối với việc bị đơn cho rằng sau khi phát sinh tranh chấp thì hai bên có thỏa thuận về việc cấn trừ một phần hụi sống và một phần hụi chết, đồng thời thỏa thuận tất toán tất cả các phần hụi mà nguyên đơn có tham gia; tuy nhiên, bị đơn cho rằng không có xác lập biên nhận và cũng không có ai chứng kiến nên cũng không có gì chứng minh.
[9] Ngoài ra, phía bị đơn còn cho rằng thông lệ từ trước đến nay giữa chủ hụi và các hụi viên đều thỏa thuận bằng lời nói với nhau về việc hốt hụi, bỏ hụi cũng như bàn giao tiền hụi chỉ bằng lời nói chứ không có xác lập bất kỳ văn bản nào. Tuy nhiên, tại các tờ giấy mà bị đơn giao nộp là 05 tờ giấy dạng A4 có chữ và số thì có thể hiện xác nhận về nhận giao nhận tiền và giữa hai bên không còn thiếu đủ gì với nhau nữa nên việc bị đơn trình bày từ trước đến nay đều không có xác lập văn bản là chưa phù hợp.
[10] Tại phiên tòa, người đại diện của bị đơn còn trình bày sau khi hai bên xảy ra tranh chấp thì có thỏa thuận cấn trừ tiền hụi của dây hụi khui ngày 20/10/2022 âm lịch và các dây hụi trước đó thì chị L1 đứng ra mua lại nên chị L1 phải trả cho chị H tổng số tiền 174.000.000 đồng, việc trả tiền cho chị H là do bà L thực hiện nhưng phía bị đơn cho rằng chỉ giao tiền chứ không có xác lập biên nhận và cũng không có người chứng kiến việc giao tiền nên bà cũng không có gì chứng minh là đã trả cho chị H số tiền 174.000.000 đồng như bà đã trình bày.
[11] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn có tham gia hai phần hụi của dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 20/10/2023 âm lịch do bị đơn làm chủ hụi (đầu thảo), nguyên đơn đã đóng tiền hụi được 10 kỳ, mỗi kỳ 2.000.000 đồng x 02 phần hụi x 10 kỳ với tổng số tiền là 40.000.000 đồng. Như vậy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả số tiền hụi đã đóng của 10 kỳ với tổng số tiền 40.000.000 đồng có có cơ sở nên chấp nhận.
[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 471, Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 92, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Kim H. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L phải có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Kim H số tiền nợ hụi là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- Tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.000.000 đồng bị đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi.
- Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.100.000 đồng cho chị Nguyễn Kim H theo biên lai 0000756 ngày 03/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
4. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trường Chinh |
Bản án số 40/2024/DS-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về nợ hụi
- Số bản án: 40/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nợ hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Kim Hường. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ phải có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Kim Hường số tiền nợ hụi là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
