Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-7-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Đăng Tố

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hồng Thanh
  2. Ông Đinh Văn Thông

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 110/2024/TLST-HNGĐ ngày 27-02-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 91/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 92/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Nguyễn T, sinh năm 1991. Địa chỉ: tổ C, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Có mặt).

Bị đơn: ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988. Địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn T trình bày, tranh luận;

Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau, thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 11-5-2023.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống không hợp nhau dẫn đến không có tiếng nói chung trong gia đình. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, không dung hòa được cuộc sống. Mâu thuẫn đến mức trầm trọng nên bà T, ông Đ đã sống “ly thân” khoảng 05 tháng nay. Mâu thuẫn giữa vợ chồng hai bên gia đình đều biết và có khuyên giải nhưng ông bà không thể hàn gắn. Nay nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đặng.

Về con: theo bà T, vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Nhật Kim A, sinh ngày 08-8-2023. Khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con. Hiện tại, bà đang làm nghề buôn bán gia cầm, thu nhập trung bình hàng tháng khoảng 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Ngoài ra, bà T có nhà riêng và có mẹ ruột phụ giúp bà trông nom, chăm sóc con. Trường hợp được chấp nhận yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con, bà T không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: bà T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: theo bà T, vợ chồng không có nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày, tranh luận:

Về quan hệ hôn nhân: ông Đặng thừa n, về quá trình xác lập quan hệ hôn nhân đúng như bà T đã trình bày, vợ chồng tự nguyện kết hôn vào năm 2023, được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định, việc kết hôn giữa vợ chồng là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép, lừa dối.

Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cá tính vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Vợ chồng đã tự chấm dứt đời sống chung cách đây khoảng 05 tháng. Ông Đặng thừa n, đến thời điểm hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, nhưng ông không đồng ý ly hôn. Theo ông Đ, chỉ khi bà T đồng ý giao con cho ông nuôi dưỡng, thì ông mới đồng ý thuận tình ly hôn theo yêu cầu của bà T.

Về con: ông Đặng thừa n, vợ chồng có 01 người con chung như bà T khai là đúng, cháu tên Nguyễn Nhật Kim A, sinh ngày 08-8-2023. Khi ly hôn, ông Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con, lý do bà T có con riên 09 tuổi, hiện bà T cũng đang nuôi dưỡng, nên điều kiện nuôi dưỡng con của bà T không đảm bảo. Bản thân ông Đ hiện nay đang sống một mình, công việc và thu nhập ổn định nên đảm bảo các điều kiện nuôi con hơn bà T. Trường hợp được chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con, ông Đ không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản: theo ông Đ, vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: theo ông Đ, vợ chồng không có nợ chung.

Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, làm việc với những người làm chứng để làm rõ nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, kết quả xác minh như sau:

Tại Biên bản lấy lời khai đối với bà Nguyễn Thị C (mẹ ruột của bà Nguyễn T), bà Thị H, bà Thị L (các chị ruột của bà T) có cùng nội dung: bà T, ông Đ sau khi kết hôn thì về sinh sống tại nhà cha mẹ ruột của bà T. Quá trình chung sống, giữa bà T và ông Đặng x ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, thậm chí đánh đập nhau. Thời gian sau khi bà T sinh con, thì mâu thuẫn càng thêm trầm trọng, ông Đặng b về nha cha mẹ ruột sinh sống, bản thân ông Đ không quan tâm, chăm sóc vợ con. Bà T trước đây làm công nhân, nhưng hiện nay buôn bán gia cầm tại nhà, bà T có nuôi 01 người con riêng nhưng từ trước đến nay bà T nuôi dưỡng 02 con đều tốt (Bút lục từ 24 - 30).

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án và tại phiên tòa hôm nay đảm bảo khách quan, vô tư, đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: (1) Về quan hệ hôn nhân: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn bà T, được ly hôn với bị đơn ông Đ; (2) Về con: đề nghị giao con Nguyễn Nhật Kim A, sinh ngày 08-8-2023 cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con; (3) Về tài sản: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: các đương sự khai không có, nên đề nghị không xem xét, giải quyết; (4) Về án phí: đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyễn T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ, tranh chấp về nuôi con Nguyễn Nhật Kim A, sinh ngày 08-8-2023. Vì vậy, quan hệ pháp luật có tranh chấp cần giải quyết trong vụ án được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông Đ có nơi cư trú tại: khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về áp dụng pháp luật:

T, ông Đ xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2023, nên áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét, giải quyết về nội dung vụ án.

[3] Về sự có mặt của đương sự:

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.

[4] Về quan hệ hôn nhân:

4.1. Lời khai thừa nhận của các đương sự về quá trình chung sống, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với nhau, phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án và lời khai của những người làm chứng, có đủ cơ sở để xác định: quá trình sống chung, vợ chồng ông Đ, bà T đã không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho đời sống hôn nhân của vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, thì yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông Đặng 1 có cơ sở chấp nhận.

4.2. Bản thân bị đơn ông Đ thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng, nhưng không đồng ý ly hôn với lý do bà T phải giao con thì mới đồng ý ly hôn, đây là điều kiện không phù hợp với quy định của pháp luật, nên không chấp nhận đề nghị của bị đơn.

[5] Về con:

T và ông Đ có 01 người con chung là Nguyễn Nhật Kim A, sinh ngày 08-8-2023, hiện con đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, các đương sự đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Xét các đương sự đều có các điều kiện cơ bản để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con, nhưng con chung của vợ chồng đến nay chưa đủ 36 tháng tuổi, cần có sự chăm sóc đặt biệt từ người mẹ. Để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho con trẻ, cần tiếp tục giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định tại Điều 79, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà T không yêu cầu ông Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản, nợ chung:

Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên không xem xét; về nợ chung, các đương sự trình bày không có, nên không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: bà T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó bà T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

[8] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các điều 227, 228; 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các điều 19, 51, 56, 70, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn T, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với ông Nguyễn Văn Đặng.

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn T được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đặng.

2. Về con: giao con Nguyễn Nhật Kim A, sinh ngày 08-8-2023 cho bà T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được quyền cản trở; vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: các đương sự khai không có, nên không xem xét.

4. Về án phí: bà Nguyễn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0004992 ngày 23-02-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Bà T đã nộp đủ án phí.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

5. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Long Khánh;
  • - Chi cục THA thành phố Long Khánh;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND phường Bảo Vinh (GCNKH số: 58/2023 ngày 11-5-2024, để dhi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đăng Tố

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đăng Tố

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đăng Tố

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Tươi yêu cầu ly hôn với anh Đặng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger