Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-7-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hữu Thắng
  2. Ông Hà Văn Châu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc – Kiểm Sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 298/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm: 1993. (Có mặt)

Địa chỉ: Số B, Lô B, Khu dân cư Đoàn Thị Đ, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Kiều Trung T1, sinh năm: 1992. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, đường T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 06 tháng 9 năm 2023, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 đăng ký kết hôn vào ngày 07/10/2015 tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S. Sau khi kết hôn ông bà chung sống đến đầu năm 2023 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng quan điểm sống. Ông bà đã ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay. Nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông T1.

Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 người con chung tên Kiều Trung H, nam, sinh ngày 09/12/2015. Hiện cháu H đang sống cùng với bà T tại địa chỉ: Số B, Lô B, Khu dân cư Đoàn Thị Đ, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu H cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Kiều Trung T1: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông T1 không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Kiều Trung H ngày 17/5/2024, cháu H trình bày: Cháu là con ruột của bà Nguyễn Thị Thủy T và ông Kiều Trung T1, cháu H đang học lớp 2, Trường Tiểu học N, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Hiện nay, cháu H đang sống cùng với mẹ là bà T tại Số B, Lô B, Khu dân cư Đoàn Thị Đ, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nay cha mẹ cháu ly hôn thì cháu H có nguyện vọng được sống cùng với mẹ là bà T.

* Tại phiên Tòa sơ thẩm:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông T1 không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về quan hệ hôn nhân cho ly hôn giữa bà T và ông T1; Về con chung, giao con chung tên Kiếu Trung H1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: do bà T không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1]. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Kiều Trung T1, cư trú tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

[2]. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung vụ án:

[3]. Xét yêu cầu ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà T và ông T1 chung sống với nhau và đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S theo Giấy chứng nhận kết hôn số 143/2015, quyển 01/2015, đăng ký ngày 07/10/2015. Tại thời điểm kết hôn bà T và ông T1 đủ điều kiện kết hôn và thực hiện việc đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa ông, bà được pháp luật công nhận.

Sau khi kết hôn ông bà chung sống đến đầu năm 2023 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng quan điểm sống. Ông bà đã ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay. Tòa án đã ra thông báo về phiên hòa giải cho vợ chồng trở về đoàn tụ 02 (hai) lần nhưng ông T1 vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Căn khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là có căn cứ, được chấp nhận.

[4]. Về con chung: Bà T trình bày, ông bà có 01 người con chung tên Kiều Trung H, nam, sinh ngày 09/12/2015. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi bà T và ông T1 sống ly thân cho đến nay, cháu H do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, cuộc sống của cháu đang ổn định, được bà T chăm sóc tốt và cho đi học đầy đủ. Đồng thời, tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu H ngày 17/5/2024 (Bút lục 33) thì cháu H có nguyện vọng được sống cùng với bà T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Do đó, ông Kiều Trung T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử xét thấy, tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định này thì ông T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nhưng bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thủy T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[7]. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thủy T trình bày vợ chồng không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[8]. Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9]. Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thủy T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thủy T.
    • - Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thủy T và ông Kiều Trung T1.
    • - Về nuôi con chung: Giao con chung tên Kiều Trung H, nam, sinh ngày 09/12/2015 cho bà Nguyễn Thị Thủy T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Hiện cháu H đang sống cùng với bà T tại địa chỉ: số B, Lô B, Khu dân cư Đoàn Thị Đ, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
    • Ông Kiều Trung T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không bị ai cản trở.
    • Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
    • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thủy T trình bày không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn: Bà Nguyễn Thị Thủy T phải chịu án phí sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001563, ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Bà Nguyễn Thị Thủy T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
  3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND TP Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;
  • - UBND Phường 2, TPST;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger