Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-PT

Ngày: 11-7-2024

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Lại Văn Tùng

Bà Vũ Thị Mai Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Kim Phượng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Vũ Phúc Du - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/HSPT-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 với bị cáo Trần Đức L và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Các bị cáo kháng cáo:

  1. Họ và tên: Trần Đức L, sinh ngày 03-02-2007; Nơi sinh và nơi cư trú: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: Không; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” .
  2. Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức L: Bà Bùi Tố Q – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Đức L: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm 3, xã Hải An, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

  3. Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 13-02-2006; Nơi sinh và nơi cư trú: Xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1984 và bà Trần Thị N, sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú".
  4. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Bà Trần Thị N1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N.

  5. Họ và tên: Lã Đức T, sinh ngày 08-11-2005; Nơi sinh và nơi cư trú: Xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lã Văn T3, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982 (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú".

Tại phiên tòa: Bị cáo L, bị cáo H, bị cáo T, người đại diện theo pháp luật của bị cáo L, người bào chữa cho bị cáo L và bị cáo H có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 7/2023, Trần Quốc D, sinh ngày 01/10/2007, trú tại tổ dân phố số C, thị trấn C, huyện H, tỉnh Nam Định thành lập nhóm “chat” trên mạng xã hội Facebook mang tên “Băng cướp đêm” mục đích để hẹn các thành viên trong nhóm tham gia đi “đánh dạo” vào các buổi tối (tức là khi đi xe máy di chuyển trên các trục đường nếu gặp người đi đường, đặc biệt là gặp nhóm thanh niên khác thì cả nhóm sẽ gây sự để tấn công). Các thành viên trong nhóm gồm: Trần Quốc D (Chủ nhóm); Nguyễn Duy H2, sinh ngày 02/12/2007, trú tại xóm B, xã H; V, sinh ngày 19/10/2007, trú tại xóm T, xã H; V, sinh ngày 18/11/2007, trú tại xóm A, xã H; N, sinh ngày 12/10/2007, trú tại xóm C, xã H; N, sinh ngày 12/11/2007, trú tại xóm T, xã H; T, sinh ngày 23/7/2006, trú tại xóm S, xã H; N, sinh ngày 01/01/2007, trú tại xóm A, xã H. Ngoài ra còn có những người khác không nằm trong nhóm “chat” nhưng là bạn của những thành viên trong nhóm được rủ đi “đánh dạo”. Khi đi “đánh dạo”, cả nhóm thống nhất sẽ mặc áo khoác trùm kín mặt, đeo khẩu trang, đem theo đinh ba, phóng lợn, dao mèo, vỏ chai bia.

Tối ngày 26/7/2023, Nguyễn Hữu P cùng Vũ Thanh T4 và Nguyễn Văn H3 đến thị trấn C, huyện H chơi. Khoảng 23 giờ cùng ngày, P, T4, H3 đang ngồi chơi tại bờ sông M thuộc tổ dân phố số C, T thấy 01 nhóm thanh niên khoảng 15 người không biết tên tuổi địa chỉ, điều khiển xe máy đi từ hướng thị trấn Y ra xã H, huyện H, trong nhóm trên có người cầm theo dao phóng lợn. P nói với T4, H3 “Tối mai tập hợp nhóm đi đánh dạo xem nhóm kia là nhóm nào”, T4 và Hiệp đồng ý. Tiếp đó, P, T4, H3 đi đến cầu C thuộc tổ dân phố số D, thị trấn Cồn gặp T đang ngồi câu cá, T4 nói với D “Mày chuẩn bị đồ tối mai đi đánh dạo”, D trả lời “ừ” (tức là đồng ý). Các thành viên trong nhóm liên lạc để rủ nhau đi đánh dạo, cụ thể:

Vũ Thanh T4 sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, lắp sim số 0397.401.462 đăng nhập tài khoản Facebook “Vũ Thanh T4” nhắn tin vào nhóm chat “Băng cướp đêm”, nội dung “Tối mai đi đánh dạo” thì cả nhóm đều xem và đồng ý. Tiếp đó, T4 rủ Nguyễn Công C, Lưu Quang H4 thì C, H4 đồng ý. Nguyễn Công C rủ Vũ Anh Đ. Lưu Quang H4 rủ thêm Trần Tuấn A, Vũ Văn T5, Trần Quang H5, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Hải D1, Nguyễn Thành D2 tham gia thì tất cả đều đồng ý.

Vương Trung K sử dụng chiếc điện thoại Iphone 6, đăng nhập tài khoản Facebook "Vuong Anh Kien” nhắn tin hẹn Nguyễn Duy H2, Nguyễn Minh T7, Trần Công H6; Nguyễn Trường Đ1 tối ngày 27/7/2023 tập trung tại sân bóng xã H để đi đánh dạo. Ngoài ra, Vương Trung K rủ thêm Vũ Ngọc T8, sinh ngày 25/8/2007, trú tại tổ dân phố số F, thị trấn C; Nguyễn Anh T9; Mai Thanh V, sinh ngày 03/12/2007, trú tại tổ dân phố số G, thị trấn C; Vũ Hùng C1, sinh ngày 16/8/2007, trú tại xóm H, xã H. Sau khi nhận lời, Vũ Ngọc T8 rủ thêm Đoàn Kiên Cường sinh ngày 22/7/2009, trú tại xóm A, xã H và Trần Đức L. L rủ thêm Trần Quang H7 sinh ngày 25/5/2008, trú tại xóm C, xã H tất cả đồng ý tham gia. Nguyễn Minh T7 rủ Trần Văn C2 sinh ngày 18/12/2007, trú tại xóm E, xã H, C2 đồng ý tham gia cùng.

Như đã hẹn, khoảng 20 giờ ngày 27/7/2023, Vũ Thanh T4Quốc D (D đem theo 01 con dao mèo, mũi nhọn, dài 50 cm, bản rộng nhất 7cm), Nguyễn Văn H3, Nguyễn Hữu P; Nguyễn Công C, Vũ Anh Đ, Vũ Văn T5, Trần Tuấn A, Trần Quang H5, Nguyễn Trường Đ1, Vương Trung K, Nguyễn Duy H2, Trần Công H6, Nguyễn Minh T7, Vũ Hùng C1, Trần Quang H7, Trần Đức L, Đoàn Kiên C3, Mai Thanh V, Vũ Ngọc T8, Nguyễn Anh T9 có mặt tại nhà Lưu Quang H4. Trong lúc tập trung tại nhà H4, thì Ninh Xuân H8 đang uống nước tại quán nước ven đường thuộc tổ dân phố số A, thị trấn T cùng Phạm Thành L1 sinh ngày 03/9/2007, trú tại xóm A, xã H; Nguyễn Văn Hiếu sinh ngày 10/08/2005 (H), Vũ Vạn S, Trần Văn T10, Lã Đức T; Phạm Văn Đ2, sinh ngày 22/11/2007, trú tại xóm X, xã H; Lương Gia H9 sinh ngày 27/12/2007, trú tại xóm X, xã H; Nguyễn Văn Hiếu sinh ngày 13/02/2006, trú tại xóm X, xã H và Vũ Duy H10, sinh ngày 15/10/2008, trú tại xóm X, xã H, H sử dụng điện thoại Iphone 7, vỏ màu xám gọi cho Nguyễn Văn H3 qua ứng dụng Facebook hỏi “có chỗ nào chơi không ?”, H3 nói đang chuẩn bị đi “đánh dạo” và rủ H8 tham gia, H8 đồng ý và H3 hẹn gặp nhau ở đoạn đường cua thuộc xóm X, xã H. Hinh rủ cả nhóm đi đánh dạo thì tất cả nhất trí.

Trước khi xuất phát, Lưu Quang H4 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, gọi cho Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Hải D1, Nguyễn Thành D2 thì B, T6 hẹn gặp ở cống Chéo, xã H và hẹn Nguyễn Hải D1, Nguyễn Thành D2 ở xã H, huyện H. Sau đó, Lưu Quang H4 vào nhà lấy 02 chiếc dao phóng lợn, được làm bằng ống tuýp kim loại, một đầu được hàn 01 lưỡi dao bầu, có tổng chiều dài 216,5cm, phần lưỡi dao dài 21,5 cm, bản rộng nhất 7cm, gồm 01 đầu nhọn và 01 cạnh sắc đã chuẩn bị từ trước cất giấu ở bụi cây và khu vực tái định cư gần nhà H4. Khi đã có mặt đầy đủ, cả nhóm xuất phát từ nhà H4 thuộc xóm N, xã H theo trục đường quốc lộ 21B đến thị trấn C, huyện H. Trần Quốc D là người đi đầu, dẫn cả nhóm đến Nghĩa Trang N2 thuộc tổ dân phố số G, thị trấn C để lấy hung khí mà D đã cất giấu trước đó. Nhóm gồm 22 người đi trên 10 xe mô tô, trong đó: Nguyễn Duy H2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1 - 771.24 chở Trần Quốc D, Trần Công H6 (Xe 1); Vũ Thanh T4 điều khiển xe môtô biển kiểm soát 18H1 - 749.78 chở Nguyễn Hữu P (Xe 2); Nguyễn Minh T7 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18D1 - 686.70 chở Vũ Hùng C1 (xe 3); Vũ Ngọc T8 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18F9 – 8541 chở Nguyễn Anh T9 (xe 4); Vũ Văn T5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26B1 – 227.30 chở Lưu Quang H4 (xe 5); Nguyễn Công C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1 - 772.17 chở Nguyễn Văn H3 và Vũ Anh Đ (xe 6); Đoàn Kiên Cường điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1-676.34 chở Mai Thanh V (xe 7); Nguyễn Trường Đ1 điều khiển xe máy biển kiểm soát 18AA - 030.48 chở Vương Trung K (xe 8); Trần Tuấn A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1 - 769.93 chở Trần Quang H5 (xe 9); Trần Quang H7 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1 - 012.95 chở Trần Đức L (xe 10). Khi đến nghĩa trang N2 thuộc tổ dân phố số G, T nhóm gặp Trần Văn C2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1 - 758.77 đang đứng chờ thì Trần Công H6, Vũ Anh Đ sang ngồi sau xe của C2. Còn D vào trong nghĩa trang lấy 01 dao phóng lợn được làm bằng ống tuýp kim loại, 01 đầu hàn lưỡi dao bầu có tổng chiều dài 173cm, phần lưỡi dao dài 24cm, bản rộng nhất 6,5cm, mũi nhọn đưa cho Nguyễn Hữu P; 01 chiếc đinh ba dài 261cm, được làm bằng ống tuýp kim loại, một đầu hàn gắn khung kim loại gồm 03 mũi nhọn, trong đó 02 mũi hai bên dài 41,5cm, 01mũi ở giữa dài 49cm, đường kính mỗi mũi 0,75cm đưa cho Vũ Hùng C1 và đưa con dao mèo mang từ nhà đi cho Lưu Quang H4.

Sau đó, cả nhóm đi trên 11 xe di chuyển theo trục đường T hướng từ nghĩa trang nhân dân thị trấn N2 cầu L, xã H khoảng 01km, rồi vòng sang quốc lộ B hướng từ xã H ra cầu T thuộc xã H, huyện H với đoạn đường khoảng 9km. Khi đi, các đối tượng dàn hàng 2, hàng 3, di chuyển tốc độ cao, vừa đi vừa bấm còi, tạt đầu các xe đi phía trước để thị uy. Khi đi đến khu vực vòng cua thuộc xóm X, xã H thì gặp nhóm của Ninh Xuân H8 (đã hẹn từ trước) gồm 10 người, đi trên 5 xe mô tô gồm: Ninh Xuân H8 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1-453.16 chở Phạm Thành L1; Lương Gia H9 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1-734.19 chở Vũ Duy H10; Phạm Văn Đ2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18B1 - 932.68 chở Nguyễn Văn H (H); Trần Văn T10 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1 – 674.84 cho Lã Đức T; Vũ Vạn S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1 – 733.56 chở Nguyễn Văn H. Nhóm của Ninh Xuân H8 nhập đoàn cùng đi. Lúc này, Phạm Thành L1 mượn Vũ Hùng C1 01chiếc đinh ba dài 261cm cầm theo để giơ lên thị uy trong quá trình di chuyển. Trước đó, khi nhóm di chuyển đến khu vực cầu L, xã H nhóm của Nguyễn Duy T11 sinh ngày 27/9/2007, trú tại xóm I, xã H gồm: T11, Nguyễn Văn H11, sinh năm 2002; Nguyễn Gia B1 sinh ngày 10/8/2009; Nguyễn Văn H12, sinh ngày 29/12/2006; Nguyễn Văn Q1, sinh ngày 05/4/2008- đều trú tại xóm T, xã H nhìn thấy nhóm của P mang theo đinh ba, dao phóng lợn nên bàn nhau điều khiển xe đuổi theo lấy dao phóng lợn về, không cho nhóm P dùng đi diễu đường. Khi đến vòng xuyến ngã 5, xã H thì T11 bảo Nguyễn Văn Q1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1-802.28 đang chở T11 và Nguyễn Văn H11 vượt lên ngang với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18H1 - 453.16 do Ninh Xuân H8 điều khiển, phía sau chở Phạm Thành L1 cầm trên tay 01 chiếc đinh ba, T11 nói với với Phạm Thành L1 “cho tao mượn cây đinh ba”. Do nghĩ cùng là thành viên trong nhóm đi đánh dạo nên L1 đồng ý đưa chiếc đinh ba cho T11 cầm. Sau khi lấy được chiếc gậy đinh ba, Nguyễn Văn H11 vẫy tay ra hiệu cho Nguyễn Gia B1 và Nguyễn Văn H12 biết, hiểu ý của H11 đã lấy được đinh ba nên nhóm Nguyễn Duy T11 cùng nhau đi về. Còn nhóm đánh dạo của D tiếp tục điều khiển xe máy với tốc độ cao, đi hàng 3, hàng 4, bấm còi inh ỏi, nẹt pô, lạng lách, đánh võng đi theo quốc lộ B qua các xã H, H, H, H, huyện H đến xã T, huyện T và theo quốc lộ 37B đến các xã H, H, H, thị trấn Y, huyện H.

Quá trình di chuyển đến khu vực trường Trung học cơ sở xã H thì chị Nguyễn Thị Phương L2 (là người yêu của Vũ Vạn S) gọi điện cho S hẹn đi chơi nên Vũ Vạn S, Nguyễn Văn H (H) tách nhóm đi về nhà. Nhóm của D đi đến trước cửa hàng T13 của ông Nguyễn Văn B ở xóm G, xã H, D phát hiện ở mép bờ sông phía nam có các két nhựa đựng vỏ chai bia nhãn hiệu Hà Nội bằng thủy tinh nên bảo Nguyễn Duy H2 dừng xe. Doanh xuống bê 01 két bên trong có 20 vỏ chai bia phát cho các thành viên trong nhóm, trong đó D đưa cho Trần Công H6, Mai Thanh V, Vũ Ngọc T8, Vũ Thanh T4, Nguyễn Minh T7, Trần Quang H5, Vũ Anh Đ, Vũ Hùng C1, Vương Trung K mỗi người 02 vỏ chai bia và D cầm theo 02 vỏ chai. Khi đi qua cây xăng xã H khoảng 300m, Trần Quang H5 ném 02 vỏ chai bia xuống đường để thị uy. Khi đến khu vực C, xã H thì cả nhóm gặp Nguyễn Văn B điều khiển xe mô tô kiểm soát 18H1- 412.45 chở Nguyễn Văn T6 gia nhập cùng với nhóm D đi đánh dạo.

Sau đó cả nhóm tiếp tục di chuyển đến nhà Lưu Quang H4 ở xóm N, xã H, H4 lấy 02 chiếc dao phóng lợn đã cất giấu trước đó đưa 01 chiếc cho Nguyễn Văn H3 và 01 chiếc đưa cho Trần Quốc D cầm. Trên đường đi Nguyễn Văn H3 đưa lại chiếc phóng lợn trên cho Phạm Thành L1 cầm. Chiếc phóng lợn còn lại Trần Quốc D, Lưu Quang H4, Nguyễn Văn H3 thay nhau cầm.

Khi nhóm Nguyễn Hữu P đi đến ngã tư cầu N, xã H thì Nguyễn Thành D2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18H1 - 729.11 chở Nguyễn Hải D1 gia nhập vào nhóm. Lúc này, xe mô tô biển kiểm soát 18H1 - 769.93 do Trần Quang H7 điều khiển chở Trần Đức L bị hết xăng nên Trần Quang H7 và Trần Đức L tách đoàn về trước. Nhóm còn lại tiếp tục di chuyển đến khu vực ngã 3, xã H lối rẽ đi trường Trung học phổ thông A1, xã H thì có 03 xe tách nhóm ra về trước gồm: Xe mô tô biển kiểm soát 18H1-734.19 do Lương Gia H9 điều khiển chở Vũ Duy H10. Xe mô tô biển kiểm soát 18B1 - 932.68 do Phạm Văn Đ2 điều khiển chở Nguyễn Văn H (H). Xe mô tô biển kiểm soát 18H1 – 674.84 do Trần Văn T10 điều khiển chở Lã Đức T. Đến khu vực cầu Y thuộc tổ dân phố số D, thị trấn Y, huyện H, xe máy biển kiểm soát 18AA - 030.48 do Nguyễn Trường Đ1 điều khiển chở Vương Trung K (xe 8) bị hết xăng nên Vương Trung K và Nguyễn Anh T9 đang ngồi sau mô tô biển kiểm soát 18F9 - 8541 do Vũ Ngọc T8 điều khiển (xe 4) đổi chỗ cho nhau. Sau đó, Đoàn Kiên C3 điều khiển mô tô biển kiểm soát 18H1 - 676.34 chở Mai Thanh V (xe 7) đẩy chiếc xe máy biển kiểm soát 18AA-030.48 do Nguyễn Trường Đ1 điều khiển chở Nguyễn Anh T9 (xe 8) ra về trước.

Nhóm còn lại, tiếp tục di chuyển theo quốc lộ C từ thị trấn Y qua ngã ba chợ cầu xã H, xã H, xã H, ngã tư huyện H đến khu vực tượng đài T thuộc thị trấn X khoảng 12km. Quá trình di chuyển trên đường, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn H3, Phạm Thành L1 ngồi phía sau cầm dao phóng lợn hướng mũi dao xuống nền đường tạo tia lửa làm cho người dân sinh sống ở hai bên đường và người tham gia giao thông hoang mang, lo sợ, phải né tránh vào hai bên đường.

Khi đến khu vực tượng đài T, thị trấn X, huyện X, thấy có 01 nhóm thanh niên khoảng 07 đến 08 người đang ngồi chơi thì Trần Công H6, Mai Thanh V, Vũ Ngọc T8, Vũ Thanh T4, Nguyễn Minh T7, Vũ Anh Đ, Vũ Hùng C1, Vương Trung K, Trần Quốc D mỗi người ném 02 vỏ chai bia thủy tinh xuống đường gần khu vực nhóm thanh niên ở trên, làm vỏ chai bia rơi xuống nền đường vỡ vụn. Sau đó, cả nhóm tiếp tục điều khiển xe mô tô chạy theo trục đường tỉnh lộ 51A qua xã X huyện X về xã H, huyện H. Xe mô tô biển kiểm soát 18H1 - 769.93 do Trần Tuấn A điều khiển chở Trần Quang H5 (xe 9) bị lạc đường nên Trần Tuấn A và Trần Quang H5 điều khiển xe theo lối xã X về ngã tư huyện H rồi đi về nhà trước.

Khi về đến khu vực nhà anh Đặng Ngọc T12 tại xóm T, xã H, Lưu Quang H4 phát hiện ở lề đường bên phải theo hướng di chuyển có để một số két vỏ chai bia Hà Nội cũ, Lưu Quang H4 bảo Vũ Văn T5 dừng xe, H4 xuống xe bê 02 két, bên trong mỗi két có 20 vỏ chai bia bằng thủy tinh bỏ ra mép đường. Hoàng bê 01 két vỏ để lên yên xe do Vũ Văn T5 điều khiển rồi lên xe ngồi sau giữ. Còn 01 két Nguyễn Văn T6 bê lên yên xe do Nguyễn Văn B điều khiển và ngồi phía sau giữ. Cả nhóm tiếp tục di chuyển theo trục đường liên xã H về thị trấn Y, sau đó theo quốc lộ B đi thị trấn C rồi ra xã H. Trên đường di chuyển, Vũ Văn T5, Lưu Quang H4, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T6 ném các vỏ chai bia xuống mặt đường; còn Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn H3, Phạm Thành L1 kéo rê phóng lợn xuống mặt đường đi làm tóe lửa, điều khiển xe máy đi hàng 3, hàng 4 với tốc độ cao, bóp còi inh ỏi, gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Khi đến khu vực đê biển xã H thì Trần Quốc D ném 01 dao mèo, Phạm Thành L1 ném 01 dao phóng lợn xuống biển, sau đó cả nhóm giải tán đi về nhà.

Đến ngày 30/7/2023, 31/7/2023 và 02/8/2023 các bị cáo Nguyễn Hữu P, Lưu Quang H4, Trần Công H6, Vũ Văn T5, Trần Tuấn A, Ninh Xuân H8, Nguyễn Công C, Nguyễn Hải D1, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T6 đến Công an huyện H đầu thú. Nguyễn Hữu P tự nguyện giao nộp 01 chiếc phóng lợn bằng kim loại một đầu được gắn lưỡi dao bầu có tổng chiều dài 173cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 24cm, bản rộng nhất 6,5cm, gồm 01 đầu nhọn và 01 cạnh sắc, đã qua sử dụng; Nguyễn Công C tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 18H1-772.17 và Trần Tuấn A giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 18H1-769.93. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện H còn tạm giữ của Trần Quốc D 01 chiếc dao phóng lợn bằng kim loại một đầu được gắn lưỡi dao bầu có tổng chiều dài 216,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại đã han gỉ, dài 21,5cm, bản rộng nhất 7cm, gồm 01 đầu nhọn và 01 cạnh sắc, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus, vỏ màu xám đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0926344283; của Nguyễn Văn H12: 01 gậy kim loại đinh ba dài 261cm, phần tay cầm bằng ống tuýp kim loại dài 211,5cm, một đầu gắn khung kim loại gồm 03mũi nhọn trong đó 02 mũi hai bên dài 41,5cm, 01 mũi ở giữa dài 49cm, đường kính mỗi mũi 0,75cm; của Vũ Thanh T4: 01 xe mô tô biển kiểm soát 18H1-749.78; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, vỏ màu xám, bên trong lắp sim số 0397401462; của Vũ Ngọc T8: 01xe mô tô biển kiểm soát 18F9-8541; của Đoàn Kiên Cường 01xe mô tô biển kiểm soát 18H1-676.34; của Nguyễn Trường Đ1: 01 xe máy biển kiểm soát 18AA-030.48; của Lương Gia H9 01xe mô tô biển kiểm soát 18H1-734.19; của Nguyễn Văn H (H) 01xe mô tô biển kiểm soát 18H1-733.56; của Nguyễn Văn H3 01 điện thoại di động Iphone 6s màu xám đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐG ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 60 vỏ chai bia thủy tinh nhãn hiệu B2, dung tích 450ml, đã quả sử dụng có trị giá là: 60 vỏ chai x 2.000 đồng/vỏ chai = 120.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 1733/KL- KTHS ngày 13/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3 là vũ khí và thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thô sơ.

Với nội dung vụ án nêu trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Hải Hậu đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Hữu P, Lưu Quang H4, Ninh Xuân H8, Trần Công H6, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Văn B, Nguyễn Hải D1, Nguyễn Công C, Vũ Văn T5, Trần Tuấn A, Vũ Anh Đ, Nguyễn Anh T9, Nguyễn Thành D2, Trần Đức L, Nguyễn Trường Đ1, Nguyễn Văn H, Lã Đức T, Trần Văn T10, Nguyễn Văn H, Vũ Vạn S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H (xã H), Lã Đức T.

Xử phạt các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H (xã H), Lã Đức T mỗi bị cáo 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, Hội đồng xét xử còn quyết định về hình phạt của các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04-4-2024, bị cáo Lã Đức T kháng cáo với nội dung: Hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ bị ung thư máu đã chết, bố không có công việc ổn định, bị cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 02-4-2024, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo với nội dung: Hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 01-4-2024, bị cáo Trần Đức L kháng cáo với nội dung: Gia đình có công với cách mạng, ông bà nội được tặng huân huy chương, bị cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T là hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức L trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân của bị cáo không có tiền án, tiền sự; khi phạm tội là người dưới 18 tuổi; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Trần Đức L và đại diện hợp pháp của bị cáo đồng ý với quan điểm của người bào chữa, không bổ sung gì.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H trình bày: Bị cáo có nhân thân tốt, khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo; Bị cáo Nguyễn Văn H đồng ý với quan điểm của người bào chữa, không bổ sung gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T: Khoảng 20 giờ ngày 27/7/2023, các bị cáo Nguyễn Hữu P, Lưu Quang H4, Ninh Xuân H8, Trần Công H6, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Văn B, Nguyễn Hải D1, Nguyễn Công C, Vũ Văn T5, Trần Tuấn A, Vũ Anh Đ, Nguyễn Anh T9, Nguyễn Thành D2, Trần Đức L, Nguyễn Trường Đ1, Nguyễn Văn H, Lã Đức T, Trần Văn T10, Nguyễn Văn H, Vũ Vạn S điều khiển xe mô tô, xe máy mang theo 01 dao mèo, 02 phóng lợn, 01 đinh ba xuất phát từ nhà H4 thuộc xóm N, xã H theo trục đường quốc lộ 21B đến T cầu L, xã H rồi vòng sang quốc lộ B hướng từ xã H ra cầu T thuộc xã H, huyện H và tiếp tục di chuyển theo quốc lộ 21B qua các xã H, H, H, H, huyện H đến xã T, huyện T và theo quốc lộ C đến xã H, H, H, thị trấn Y, H, H, H huyện H đi thị trấn X, xã X, huyện X rồi quay về qua xã H, thị trấn Y và H, huyện H. Quá trình di chuyển trên đường các đối tượng điều khiển xe mô tô, xe máy với tốc độ cao, đi hàng 3, hàng 4, bấm còi inh ỏi, nẹt pô, lạng lách, đánh võng, quẹt dao phóng lợn, ném vỏ chai bia xuống đường làm náo loạn các khu vực đi qua, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T để quyết định với mức hình phạt 21 tháng tù đối với các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo L, H, T nộp đơn trình bày hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Đơn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú; HĐXX xác định các bị cáo L, H, T phạm tội lần đầu và có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm thứ yếu, thời điểm phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc. Vì vậy, HĐXX chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo, quyết định sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.

[4] Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T; Sửa một phần bản án sơ thẩm.
  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T mỗi bị cáo 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Lã Đức T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục.

    Giao bị cáo Trần Đức L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục.

    Trong thời gian thử thách, gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì người bị thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - TA - CA - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - CC. THADS huyện Hải Hậu;
  • - UBND xã Hải An, Hải Hậu;
  • - UBND xã Hải Hoà, Hải Hậu;
  • - Các bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Anh Tuấn

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-PT ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 40/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T; Sửa một phần bản án sơ thẩm. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T mỗi bị cáo 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Lã Đức T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục. Giao bị cáo Trần Đức L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục. Trong thời gian thử thách, gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. 3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Văn H, Lã Đức T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger