|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST
Ngày 10 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Quốc Đạt.
Ông Nguyễn Văn Ngư.
Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trang, bà Huỳnh Mộng K - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Phan Văn Đức S, sinh ngày 10-9-1995, tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: Tổ F, khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Nơi ở hiện tại: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Lái xe cuốc; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn S1, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; Vợ tên Trương Mỹ N, sinh năm 1995; Con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 10-02-2024 đến ngày 13-02-2024 và chuyển tạm giam đến nay.
- Trà Phol, sinh ngày 25-3-2002, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 1/12; Dân tộc: Khmer (Khơ me); Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trà G, sinh năm 1972 và bà Danh Thị P, sinh năm 1975; Vợ tên Thạch Thị O, sinh năm 1994 và có 01 người con, sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 12-02-2024 đến ngày 15-02-2024 và chuyển tạm giam đến nay.
2
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- - Người bào chữa cho bị cáo Trà P1: Ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Phong V là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Địa chỉ nơi làm việc: Số A, Đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- - Bị hại: Đoàn Thiên L1, sinh năm 1960. Địa chỉ: Hẻm B, Đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Thạch Thị O, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Bà Trương Mỹ N, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện tại: Ấp N, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- - Người làm chứng:
- Bà Kim Thị Diệu T, sinh năm 1996. Địa chỉ: số A, Đường L, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Như Ý, sinh năm 1991. Địa chỉ: số A, Đường M, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- - Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Thạch Văn H – Hội Cựu chiến binh huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo S và bị cáo P1 quen biết, bị cáo S và bị hại L1 có mâu thuẫn trong việc bị hại L1 không trả tiền hoa hồng nhờ bị cáo S mua số lô, số đề nên bị cáo S nảy sinh ý định lấy xe mô tô biển kiểm soát 62P2-387.81 của bị hại L1 để trừ tiền. Sau đó, bị cáo S rủ bị cáo P1, đưa cho bị cáo P1 số tiền 1.500.000 đồng, nói với bị cáo P1 sau khi lấy được tiền của bị hại L1 sẽ cho thêm nên bị cáo P1 đồng ý cùng đi. Đến khoảng 19 giờ ngày 01-02-2024, bị cáo S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83P2-188.00 chở bị cáo P1 đến Quốc lộ F thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, chọn nơi đường vắng dừng xe lại, sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen có số thuê bao 0971.902.948 gọi vào điện thoại di động của bị hại L1 có số số thuê bao 0933.628.588 nhờ bị hại L1 mua xăng đem đến nhằm mục đích lừa bị hại L1 đến đoạn đường vắng để đánh, lấy xe mô tô biển kiểm soát 62P2-387.81. Sau đó, bị cáo S đưa cho bị cáo P1 01 (một) cây dao thái lan, cán màu vàng, lưỡi dao màu trắng, chiều dài khoảng 20cm, đã bẽ gãy phần mũi nhọn, nói với bị cáo P1: “Kè cổ ổng, nếu ổng không trả tiền thì sẽ lấy xe mô tô SH của ổng”. Một lúc sau, bị hại L1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 62P2-387.81 đi đến, bị cáo P1 đi lại ngồi lên phía sau xe của bị hại L1, tay phải cầm cây dao thái lan kề vào cổ bị hại L1, bị cáo S hỏi bị hại L1: “chú trả tiền con không”, bị hại L1
3
nói để lấy tiền đưa thì có xe chạy ngang qua, bị hại L1 truy hô “cướp, cướp”, nghe vậy bị cáo P1 dùng dao thái lan đâm vào cổ bị hại L1, bị hại L1 tiếp tục kháng cự, bị cáo P1 dùng dao thái lan đâm vào sau lưng bên phải bị hại L1. Lúc này, xe mô tô biển kiểm soát 62P2-387.81 ngã xuống đường, bị cáo S giật lấy chìa khóa, kêu bị cáo P1 điều khiên xe chạy đi, do bị cáo P1 không biết điều khiển xe tay ga nên bị cáo P1 ngồi trên xe mô tô biển kiểm soát 62P2-387.81, bị cáo S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83P2-188.00 đẩy đi về hướng xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng được một đoạn thì bị hại L1 được một người thanh niên điều khiển xe đuổi theo, dùng chân đạp vào xe mô tô bị cáo P1 đang ngồi, bị cáo S kêu bị cáo P1 bỏ xe mô tô bị hại L1 lại, lên xe bị cáo S điều khiển tẩu thoát. Đến ngày 10 và 12-02-2024, bị cáo S, P1 đến Công an thị trấn C, huyện C đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
- Tại Kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐG ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng kết luận:
“Tại thời điểm ngày 01-02-2024, xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH150I, màu đen bạc, biển số 62P2-387.81, số khung RLIIKF4216NY203097, số máy KF42E3011680, nguyên giá 124.000.000 đồng, tỷ lệ chất lượng còn lại 85%, giá trị còn lại 105.400.000 đồng.”.
- Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 113/KLTTCT-TTPYST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh S, kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Sẹo vùng lưng phải liên sườn 8-9, kích thước trung bình. Tràn khí, tràn dịch màn phổi phải đã được điều trị ổn định. Xquang tràn dịch màn phối phải lượng ít đã ổn định, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 02% (hai phần trăm) và 10% (mười phần trăm).
- Vết rối loạn sắc tố da hình thẳng vùng cổ phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 01% (một phần trăm).
2. Kết luận:
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đoàn Thiên L2 tại thời điểm giám định là 13% (Mười ba phần trăm).
- Kết luận khác: Tổn thương nằm ở vùng nguy hiểm đến tính mạng. Tổn thương không gây ảnh hưởng đến chức năng. Tổn thương không gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Tổn thương có đặc điểm do vật có cạnh sắc – nhọn gây nên.”.
- Tại Kết luận giám định số: 09/KL-KTSĐT-KTHS ngày 25 tháng 02 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận:
4
- “1. Tệp video tên: Tôn Đức T1.mp4, thời lượng 06 giây, dung lượng 1.75MB, mã MD5: c272a8bf96293270c92e2e0eb7a1963e (Ký hiệu A1): Không tìn thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video mẫu cần giám định.
- 2. Tệp video tên: 5140668399983.mp4, thời lượng 25 giây, dung lượng 1.55 MB, mã MD5: 1b603e347613ed8d02845fe24ed9661d (Ký hiệu A2): Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video mẫu cần giám định.”
- Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định tạm giữ, thu giữ:
Thu giữ tại hiện trường: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH150I, số máy KF42E3011680, số khung RLIIKF4216NY203097, màu Đen - bạc, biển kiểm soát 62P2-387.81; 01 (một) cây kéo có chiều dài 12,4 cm, thân kéo bằng nhựa màu đỏ có chiều dài 7,8cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu đen có chiều dài 4,6cm (loại kéo cắt chỉ); 01 (một) chiếc dép bằng nhựa màu vàng, bên bàn chân trái, loại dép vai kẹp có chiều dài 26cm, chiều rộng nhất dài 10cm, chiều hẹp nhất dài 7,6cm, phần vai dép bị duột rời ra ngoài.
Tạm giữ của bị cáo S: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu xanh đen, số IMEI 1 358384100862875, sim 1 số 0931.155.345, số IMEI 2 358385100862872, sim 2 số 0971.902.948.
Tạm giữ của bị cáo P1: 01 (một) cái thun ngắn tay, màu xanh đen, cổ tròn, phía trước áo có ghi dòng chữ Lê Dương Bảo L3 SAO HAY RA DẺ QUÁ À và 01 (một) cái quần dài, loại quần Jean, màu xám, bên trong lưng quần có dòng chữ GROUP màu vàng.
Tạm giữ của bị hại Lý: 01 (một) chiếc áo thun dài tay, màu cam có bâu đứng có chiều dài 68cm, rộng 38cm, trên thân áo có chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu), 01 vết rách hình cong dài 2,5cm.
Tạm giữ của bà Trương Mỹ N: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIR BLADE, màu Đen; số máy JF46E2028643, số khung 4612EY020009, biển kiểm soát 83P2-188.00.
Tạm giữ của ông Trịnh Minh H1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh, số IMEI 1 867143064220999, sim 1 số 0355.897.570, số IMEI 2 867143064220981.
Tạm giữ của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện C: 01 (một) đĩa quang loại DVD, trên đĩa quang có dòng chữ “MING HENG” đĩa có lưu tiệp “Tôn Đức T1”, dung lượng 1,75 MB, định dạng “.mp4” và tiệp “5140668399983” dung lượng 1,55 MB, định dạng “.mp4".
Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định xử lý vật chứng:
5
Trả lại cho bị hại Lý: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH150I, số máy KF42E3011680, số khung RLIIKF4216NY203097, màu Đen - bạc, biển kiểm soát 62P2-387.81.
Trả lại cho bà Trương Mỹ N: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIR BLADE, màu Đen; số máy JF46E2028643, số khung 4612EY020009, biển kiểm soát 83P2-188.00.
Trả lại cho bà Thạch Thị O: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh, số IMEI 1 867143064220999, sim 1 số 0355.897.570, số IMEI 2 867143064220981.
Đối với 01 (một) đĩa quang loại DVD, trên đĩa quang có dòng chữ “MING HENG” đĩa có lưu tiệp “Tôn Đức T1”, dung lượng 1,75 MB, định dạng “.mp4” và tiệp “5140668399983” dung lượng 1,55 MB, định dạng “.mp4”, Cơ quan điều tra Công an huyện C tiếp tục tạm giữ, chuyển theo hồ sơ vụ án. Đối với các vật chứng còn lại, Cơ quan điều tra Công an huyện C tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại L2 không yêu cầu bị cáo S, P1 phải bồi thường thiệt hại.
- Tại Cáo trạng số: 37/CT-VKS-CT ngày 17-7-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo S, P1 tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm c, d, đ Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo S, P1. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo S, P1 phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng điểm c, d, đ Khoản 2 Điều 168, điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo S và bị cáo P1; xử phạt bị cáo S mức hình phạt từ 10 (mười) năm tù đến 11 (mười một) năm tù; xử phạt bị cáo P1 mức hình phạt từ 09 (chín) năm tù đến 10 (mười) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại L2 không yêu cầu bị cáo S, P1 phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu nộp ngân sách nhà Nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu xanh đen, số IMEI 1 358384100862875, sim 1 số 0931.155.345, số IMEI 2 358385100862872, sim 2 số 0971.902.948 là công cụ, phương tiện phạm tội còn giá trị sử dụng. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kéo có chiều dài 12,4 cm, thân kéo bằng nhựa màu đỏ có chiều dài 7,8cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu đen có chiều dài 4,6cm (loại kéo cắt chỉ); 01 (một) chiếc dép bằng nhựa màu vàng, bên bàn chân trái, loại dép vai kẹp có chiều dài 26cm, chiều
6
rộng nhất dài 10cm, chiều hẹp nhất dài 7,6cm, phần vai dép bị duột rời ra ngoài; 01 (một) cái thun ngắn tay, màu xanh đen, cổ tròn, phía trước áo có ghi dòng chữ Lê Dương Bảo Lâm SAO HAY RA DẺ QUÁ À; 01 (một) cái quần dài, loại quần Jean, màu xám, bên trong lưng quần có dòng chữ GROUP màu vàng; 01 (một) chiếc áo thun dài tay, màu cam có bâu đứng có chiều dài 68cm, rộng 38cm, trên thân áo có chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu), 01 vết rách hình cong dài 2,5cm là vật không còn giá trị sử dụng hoặc không sử dụng được. Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa quang loại DVD, trên đĩa quang có dòng chữ “MING HENG” đĩa có lưu tiệp “Tôn Đức T1”, dung lượng 1,75 MB, định dạng “.mp4” và tiệp “5140668399983” dung lượng 1,55 MB, định dạng “.mp4”.
Bị cáo S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm c, d, đ Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo S xin lỗi bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo P1 thống nhất tội danh, điều luật, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng cho bị cáo P1; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò bị cáo P1 là người bị rủ rê, nhân thân tốt, chưa có tiền án, chưa có tiền sự, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên không am hiểu pháp luật và là lao động chính trong gia đình, xử phạt bị cáo P1 mức hình phạt từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù và xem xét cho bị cáo P1 được miễn án phí sơ thẩm.
Bị cáo P1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm c, d, đ Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); thống nhất luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo và không tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng, bị cáo P1 xin lỗi bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại L2 yêu cầu xử phạt bị cáo S, P1 mức hình phạt theo quy định pháp luật, không yêu cầu bị cáo S, P1 phải bồi thường thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng bà Kim Thị Diệu T, bà Nguyễn
7
Như Ý vắng mặt. Bị cáo S, P1 và bị hại L2 không có ý kiến. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, những người làm chứng này đã được triệu tập tham gia phiên tòa, vắng mặt không có lý do và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc họ vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo S, P1, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo S, P1 thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm c, d, đ Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng hành vi phạm tội, không oan sai; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:
[4] Vào khoảng 19 giờ ngày 01-02-2024 tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo S, P1 cùng nhau thực hiện hành vi dùng dao thái lan kề vào cổ khống chế bị hại L2 nhằm chiếm đoạt tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH150I, biển kiểm soát 62P2-387.81, khi bị hại Lý kháng cự và truy hô, bị cáo P1 đã dùng dao thái lan đâm vào cơ thể của bị hại L2 02 dao gây thương tích cho bị hại Lý qua giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%, chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH150I, biển kiểm soát 62P2-387.81 của bị hại L2 qua định giá là 105.400.000 đồng. Đến ngày 10 và 12 -02-2024, bị cáo S, P1 đã đến Công an thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
[5] Tại Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
- Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
- d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
- đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- e) ...".
8
[6] Đối chiếu với quy định viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo S, P1 là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi dùng dao thái lan để đe đọa, để gây thương tích cho người khác nhằm chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật thế nhưng các bị cáo bất chấp, chỉ vì tức giận bị hại L2 không trả cho bị cáo Sinh tiền hoa hồng mua số lô, số đề, bị cáo S đã rủ rê, cho bị cáo P1 tiền, hứa hẹn sau khi lấy được tài sản của bị hại L2 sẽ cho bị cáo P1 thêm tiền, các bị cáo đã thống nhất cùng nhau dùng dao thái lan là phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa làm cho bị cáo Lý lâm vào tình trạng không thể chống cự được, khi bị hại Lý kháng cự, truy hô bị cáo P1 đã đâm 02 dao gây thương tích cho bị hại L2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%, đã chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH150I, biển kiểm soát 62P2-387.81 của bị hại L2 có giá trị còn lại là 105.400.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo S, P1 đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, d, đ Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Như vậy, Cáo trạng số: 37/CT-VKS-CT ngày 17-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo S, P1 tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm c, d, đ Khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[8] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần xử phạt các bị cáo thật nghiêm để các bị cáo có thời gian cải tạo, lao động, học tập trở thành công dân biết tôn trọng, chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
[9] Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ, không có sự phân công vai trò cụ thể cho từng người nên là đồng phạm giản đơn, vai trò của từng bị cáo như sau:
[10] Đối với bị cáo S: Bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị dao thái lan là phương tiện nguy hiểm đưa cho bị cáo P1 để khống chế, gây thương tích cho bị hại L2; bị cáo còn cho bị cáo P1 tiền, hứa hẹn sau khi chiếm đoạt được tài sản của bị hại L2 sẽ cho bị cáo P1 thêm tiền. Bị cáo còn là người hẹn bị hại L2 đến địa điểm vắng, giữ xe bị hại L2 không bị ngã khi bị cáo P1 khống chế bị hại L2, sau khi bị hại L2 và xe ngã xuống đường bị cáo đã lấy chìa khóa xe đưa cho bị cáo P1, kêu bị cáo P1 ngồi lên xe bị hại L2, bị cáo điều khiển xe đẩy xe bị hại L2 đi nhằm chiếm đoạt và cũng là người điều khiển xe chở bị cáo P1 tẩu thoát. Do đó, bị cáo S phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo P1.
[11] Đối với bị cáo P1: Bị cáo P1 đồng phạm với vai trò là người thực hành tích cực. Khi được bị cáo S rủ rê, cho tiền, hứa hẹn sau khi chiếm đoạt được tài sản sẽ cho thêm tiền thì bị cáo P1 đồng ý. Bị cáo P1 là người cầm dao thái lan
9
khống chế, đâm 02 dao gây thương tích cho bị hại L2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%, ngồi lên xe bị hại L2 để bị cáo S điều khiển xe đẩy đi nhằm chiếm đoạt. Do đó, bị cáo P1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, mức hình phạt nhẹ hơn bị cáo S.
[12] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau: Các bị cáo S, P1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, chưa có tiền sự và không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện; riêng bị cáo P1 là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Như vậy, bị cáo S, P1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.
[13] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại L2 không yêu cầu bị cáo S, P1 phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.
[14] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu xanh đen, số IMEI 1 358384100862875, sim 1 số 0931.155.345, số IMEI 2 358385100862872, sim 2 số 0971.902.948 là phương tiện bị cáo S sử dụng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên tịch thu nộp ngân sách nhà Nước. Đối với 01 (một) cây kéo có chiều dài 12,4 cm, thân kéo bằng nhựa màu đỏ có chiều dài 7,8cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu đen có chiều dài 4,6cm (loại kéo cắt chỉ); 01 (một) chiếc dép bằng nhựa màu vàng, bên bàn chân trái, loại dép vai kẹp có chiều dài 26cm, chiều rộng nhất dài 10cm, chiều hẹp nhất dài 7,6cm, phần vai dép bị duột rời ra ngoài; 01 (một) cái thun ngắn tay, màu xanh đen, cổ tròn, phía trước áo có ghi dòng chữ Lê Dương Bảo Lâm SAO HAY RA DẺ QUÁ À; 01 (một) cái quần dài, loại quần Jean, màu xám, bên trong lưng quần có dòng chữ GROUP màu vàng; 01 (một) chiếc áo thun dài tay, màu cam có bâu đứng có chiều dài 68cm, rộng 38cm, trên thân áo có chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu), 01 vết rách hình cong dài 2,5cm là tài sản thu giữ của bị cáo P1, thu giữ tại hiện trường, không còn giá trị sử dụng hoặc không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) đĩa quang loại DVD, trên đĩa quang có dòng chữ “MING HENG” đĩa có lưu tiệp “Tôn Đức T1”, dung lượng 1,75 MB, định dạng “.mp4” và tiệp “5140668399983" dung lượng 1,55 MB, định dạng “.mp4" là chứng cứ chứng minh tội phạm, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã lưu vào hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[15] Đối với bà Thạch Thị O: Vào ngày 31-01-2024 sau khi được bị cáo S cho số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo P1 đưa cho bà O số tiền 1.000.000 đồng để chuộc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh do bà O cầm trước đó. Khi bà
10
O nhận tiền không biết tiền từ đâu bị cáo P1 có, bà O cũng không biết việc bị cáo P1 và bị cáo S chiếm đoạt tài sản của bị hại L2 nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
[16] Đối với hành vi nhờ bị cáo S mua số lô, số đề của bị hại L2: Bị cáo S khai được bị hại L2 nhờ mua số lô, số đề nhiều lần tại tỉnh Vĩnh Long, bị hại L2 còn nợ bị cáo Sinh tiền hoa hồng là 125.000.000 đồng. Bị hại L2 chỉ thừa nhận còn nợ bị cáo S số tiền hoa hồng nhờ mua số lô, số đề là 114.000 đồng. Ngoài lời khai của bị cáo S và lời khai của bị hại L2 thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh hành vi mua số lô, số đề của bị cáo P1, bị hại L2 nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
[17] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ pháp luật. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo S, P1 mức hình phạt khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị, thể hiện nguyên tắc khoan hồng với người phạm tội đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[18] Người bào chữa cho bị cáo P1 đề nghị xử phạt bị cáo P1 mức hình phạt từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù là có căn cứ pháp luật. Như đã nhận định, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo P1 mức hình phạt cao nhất mà người bào chữa đề nghị.
[19] Bị cáo S, P1 là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo P1 thuộc đối tượng được miễn nộp án phí sơ thẩm, có đơn xin được miễn án phí sơ thẩm, nên xem xét cho bị cáo P1 được miễn nộp án phí sơ thẩm.
[20] Bị cáo, bị hại, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm a Khoản 1 Điều 47, điểm c, d, đ Khoản 2 Điều 168, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phan Văn Đức S và bị cáo Trà P1.
- - Khoản 2 Điều 136, điểm a, c Khoản 2 Điều 106, Khoản 1 Điều 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Điểm đ Khoản 1 Điều 12, điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Đức S, Trà P1 phạm tội “Cướp tài sản”.
11
Tuyên xử:
- Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ Sinh 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10-02-2024.
- Xử phạt bị cáo Trà P1 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-02-2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đoàn Thiên Lý không yêu cầu bị cáo Phan Văn Đức S, Trà P1 phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà Nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu xanh đen, số IMEI 1 358384100862875, sim 1 số 0931.155.345, số IMEI 2 358385100862872, sim 2 số 0971.902.948. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kéo có chiều dài 12,4 cm, thân kéo bằng nhựa màu đỏ có chiều dài 7,8cm, lưỡi kéo bằng kim loại màu đen có chiều dài 4,6cm (loại kéo cắt chỉ); 01 (một) chiếc dép bằng nhựa màu vàng, bên bàn chân trái, loại dép vai kẹp có chiều dài 26cm, chiều rộng nhất dài 10cm, chiều hẹp nhất dài 7,6cm, phần vai dép bị duột rời ra ngoài; 01 (một) cái thun ngắn tay, màu xanh đen, cổ tròn, phía trước áo có ghi dòng chữ Lê Dương Bảo Lâm SAO HAY RA DẺ QUÁ À; 01 (một) cái quần dài, loại quần Jean, màu xám, bên trong lưng quần có dòng chữ GROUP màu vàng; 01 (một) chiếc áo thun dài tay, màu cam có bâu đứng có chiều dài 68cm, rộng 38cm, trên thân áo có chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu), 01 vết rách hình cong dài 2,5cm. Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa quang loại DVD, trên đĩa quang có dòng chữ “MING HENG” đĩa có lưu tiệp “Tôn Đức T1”, dung lượng 1,75 MB, định dạng “.mp4” và tiệp “5140668399983” dung lượng 1,55 MB, định dạng “.mp4".
- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Phan Văn Đức S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng. Bị cáo Trà P1 thuộc trường hợp được miễn nộp án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Đạt |
12
13
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Châu Thành, ngày 20 tháng 9 năm 2024
Số: 14/2024/TB-TA
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỎ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2024/HS-ST ngày 10-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng có thiếu sót, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
Về nội dung:
Tại dòng thứ 14 và 15, từ trên xuống, trang 8 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
“...là phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa làm cho bị cáo Lý lâm vào tình trạng không thể chống cự được...”.
Tại dòng thứ 16, 17, từ trên xuống, trang 9 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
“……… tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)...”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
Tại dòng thứ 14, 15, từ trên xuống, trang 8 của Bản án sơ thẩm:
“...là phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa làm cho bị hại Lý lâm vào tình trạng không thể chống cự được...”.
Tại dòng thứ 16, 17, từ trên xuống, trang 9 của Bản án sơ thẩm:
“... tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)...”.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Đạt |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Đức Sinh, Trà Phol phạm tội “Cướp tài sản”.
