|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/DS-ST Ngày: 10-7-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHÓ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu
- Ông Nguyễn Tấn Thức
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 307/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-DS ngày 22/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 67a/2024/QÐST-DS ngày 11/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K; Trụ sở: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M - Chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Tuyết S – Chuyên viên xử lý nợ (Quyết định ủy quyền số 3366/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP K và Quyết định ủy quyền số 3696/QĐ-NHKL ngày 15/9/2023 của Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP K); Bà S có mặt.
- Bị đơn: Ông Huỳnh H, sinh năm: 1954 và bà Trương Thị H1, sinh năm 1952;
Cùng địa chỉ: Số A C, tổ C, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; ông H và bà H1 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023, bản trình bày và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết S trình bày:
Vào ngày 25/12/2020, ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP K - CN Đ, cụ thể như sau: Hợp đồng tín dụng từng lần số 460/20/HĐTD/0500-0304 ngày 25/12/2020, số tiền vay: 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng), mục đích vay vốn: Phục vụ đời sống, ngày giải ngân: 28/12/2020, thời hạn vay vốn: 5 năm (60 tháng), từ ngày 28/12/2020 đến 28/12/2025, lãi suất vay:
| Từ ngày | Đến ngày | Lãi suất (%/năm) |
|---|---|---|
| 28/12/2020 | 28/12/2022 | 12,0%-12,62% |
| 28/12/2022 | 28/06/2023 | 16,75% |
| 28/06/2023 | 28/09/2023 | 15,75% |
| 28/09/2023 | 28/12/2023 | 14,65% |
| 28/12/2023 | 28/03/2024 | 13,75% |
- Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
- Hình thức thanh toán gốc, lãi:
+ Gốc: Gốc trả thành 10 kỳ, 06 tháng trả 1 lần với số tiền 21.000.000 đồng vào các ngày 28/06 và 28/12 hàng năm. Ngày trả gốc vay đầu tiên 28/06/2021.
+ Lãi: Trả định kỳ hàng tháng vào ngày 28, ngày trả lãi vay đầu tiên 28/01/2021
* Để bảo đảm cho các nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng cho vay nêu trên, ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP K tài sản như sau: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại địa chỉ: Tổ G phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 218381, số vào sổ cấp GCN: CTs 44523 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 13/08/2014, chủ sở hữu là ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1, với các đặc điểm cụ thể: Thửa đất số: 33; Tờ bản đồ số: 45; Diện tích: 214,3m²; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị; Thời hạn sử dụng: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng: Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất. Nhà ở: Loại nhà ở: Nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng: 103,9m², diện tích sàn: 185,3m²; hình thức sở hữu: Sở hữu riêng, nhà cấp 3 (2 tầng).
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng vay, khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng K - C. Phía bị đơn tính đến nay đã trả cho Ngân hàng số tiền 121.246.996 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 10/7/2024 là: 168.208.897 đồng (Một trăm sáu mươi tám triệu hai trăm lẻ tám nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó, bao gồm nợ gốc là 132.000.000 đồng, lãi trong hạn là 25.252.159 đồng, lãi quá hạn là 8.861.116 đồng, phạt chậm trả lãi trong hạn 2.095.622 đồng.
Buộc ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 11/7/2024 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay. Nếu ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản trả nợ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
* Tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 trình bày:
Ngày 25/12/2020, ông bà có vay vốn tại Ngân hàng TMCP K - CN Đ, cụ thể như sau: Hợp đồng tín dụng từng lần số 460/20/HĐTD/0500-0304 ngày 25/12/2020, số tiền vay: 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng); mục đích vay vốn: Phục vụ đời sống. Để bảo đảm cho các nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng cho vay nêu trên, ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP K tài sản như sau: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại địa chỉ: Tổ G phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 218381, số vào sổ cấp GCN: CTs 44523 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 13/08/2014, chủ sở hữu: ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1.
Sau khi vay, thời gian đầu ông bà đã trả tiền gốc và lãi đúng như thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên, sau đó do dịch bệnh và ông bà bị bệnh (ông H bị bệnh thận, bà H bị bệnh tiểu đường) phải chạy chữa nhiều nơi và nằm viện nhiều lần để điều trị, thuốc men nên không trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng như hợp đồng.
Nay Ngân hàng TMCP K kiện đòi số tiền là tính đến hết ngày 10/7/2024 là: 168.208.897 đồng (Một trăm sáu mươi tám triệu hai trăm lẻ tám nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó, bao gồm nợ gốc là 132.000.000 đồng, lãi trong hạn là 25.252.159 đồng, lãi quá hạn là 8.861.116 đồng, phạt chậm trả lãi trong hạn 2.095.622 đồng ông bà đồng ý trả. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế gia đình khó khăn, ông bà đề nghị ngân hàng tạo điều kiện cho ông bà được trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng và đề nghị ngân hàng xem xét giảm bớt số tiền lãi vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng:
- + Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án,Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi nghị án.
- + Đối với đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP K đối với ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1.
- + Về án phí: Đương sự chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 hiện cư trú tại địa chỉ: Số A C, tổ C, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp quận C, thành phố Đà Nẵng.
[2] Về nội dung khởi kiện: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi còn nợ tính đến ngày 10/7/2024 là: 168.208.897 đồng (Một trăm sáu mươi tám triệu hai trăm lẻ tám nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó, bao gồm nợ gốc là 132.000.000 đồng, lãi trong hạn là 25.252.159 đồng, lãi quá hạn là 8.861.116 đồng, phạt chậm trả lãi trong hạn 2.095.622 đồng. Ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 11/7/2024 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay. Trong trường hợp ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì đề nghị phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết. Bị đơn ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 thừa nhận số nợ gốc và lãi như trên và đề nghị ngân hàng cho trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng và đề nghị ngân hàng xem xét giảm bớt số tiền lãi vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn.
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với khoản nợ gốc và nợ lãi thì thấy: Ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP K – C tại Hợp đồng cấp tín dụng số 460/20/HĐTD/0500-0304 ngày 25/12/2020, số tiền vay 210.000.000 đồng, mục đích vay vốn: Phục vụ đời sống, ngày giải ngân 28/12/2020, thời hạn vay vốn: 5 năm (60 tháng), từ ngày 28/12/2020 đến 28/12/2025, lãi suất vay 12,0%-12,62%, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; kỳ hạn trả nợ gốc và lãi: Gốc trả thành 10 kỳ, 06 tháng trả 1 lần với số tiền 21.000.000 đồng vào các ngày 28/06 và 28/12 hàng năm, ngày trả gốc vay đầu tiên 28/06/2021, Lãi trả định kỳ hàng tháng vào ngày 28, ngày trả lãi vay đầu tiên 28/01/2021.
Xét thấy: Sau khi ký hết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP K – C đã giải ngân cho ông H bà H1 số tiền là 210.000.000 đồng được thể hiện tại Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 33446903/KUNN ngày 28/12/2020. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi được quy định tại Điều 3 của Hợp đồng tín dụng và điểm 9 của khế ước nhận nợ, nên tháng 10/2023 Ngân hàng K khởi kiện tại Tòa án. Tại phiên tòa, đại diện ngân hàng yêu cầu ông H bà H1 thanh toán cho ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 10/7/2024 là 168.208.897 đồng (trong đó, bao gồm nợ gốc là 132.000.000 đồng, lãi trong hạn là 25.252.159 đồng, lãi quá hạn là 8.861.116 đồng, phạt chậm trả lãi trong hạn 2.095.622 đồng). Bị đơn ông H bà H1 thừa nhận do ông H bị bệnh thận phải chạy chữa nhiều nơi và nằm viện nhiều lần, còn bà bị bệnh tiểu đường nên đã không trả tiền gốc và tiền lãi đúng theo hợp đồng tín dụng, hiện còn nợ ngân hàng số tiền gốc và lãi như ngân hàng yêu cầu. Do vậy, Ngân hàng yêu cầu ông H bà H1 phải trả số tiền gốc và lãi như trên cho Ngân hàng là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng; các điều 463, 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 đề nghị ngân hàng cho trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng và đề nghị ngân hàng xem xét giảm bớt số tiền lãi vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nhưng không được đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng đồng ý nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[2.3] Ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng số 460/20/HĐTD/0500-0304 ngày 25/12/2020 đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP K – C và ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 kể từ ngày 11/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
[2.4] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông H bà H1 không thanh toán thì thấy: Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 460/20/HĐTC-BĐS/0500-0304 ngày 25/12/2020 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K – C và ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 được công chứng tại Văn phòng C1, thành phố Đà Nẵng, đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận C, thành phố Đà Nẵng ngày 28/12/2020; tài sản thế chấp là nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 45, diện tích: 214,3m², hình thức sử dụng: Sử dụng riêng, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: Lâu dài, nguồn gốc sử dụng: Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất; Nhà ở: Loại nhà ở: Nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng: 103,9m², diện tích sàn: 185,3m²; hình thức sở hữu: Sở hữu riêng, nhà cấp 3 (2 tầng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BV 218381, số vào sổ cấp GCN: CTs 44523 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 13/08/2014, chủ sở hữu là ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1.
Hợp đồng thế chấp được ký kết trên sự tự nguyện giữa các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, hành vi dân sự, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và được công chứng, được đăng ký thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền nên có hiệu lực thi hành theo quy định tại các Điều 117, 118, 119, 298, 317, 401 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng. Trường hợp ông H bà H1 thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là Nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 45, diện tích: 214,3m² tại địa chỉ: tổ C, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng được phát mãi theo quy định tại Điều 299, Điều 322, khoản 7 Điều 323, Điều 303 Bộ luật dân năm 2015 và Điều 56 Nghị định số 163/2006/NĐ-CPvề giao dịch bảo đảm.
[2.5] Ngân hàng TMCP K có nghĩa vụ trả lại cho ông H bà H1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BV 218381, số vào sổ cấp GCN: CTs 44523 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 13/08/2014, chủ sở hữu là ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 sau khi ông H bà H1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP K.
[3] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 được miễn tiền án phí (có đơn miễn tiền án phí là người cao tuổi).
[5] Về lệ phí và chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng ông H bà H1 phải chịu. Tuy nhiên, Ngân hàng TMCP K đã nộp tạm ứng trước nên ông H bà H1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Điều 299, khoản 7 Điều 323, Điều 303, Điều 463; Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên bố: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K đối với ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Xử:
- Buộc ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền gốc và lãi tính đến ngày 10/7/2024 là 168.208.897 đồng (Một trăm sáu mươi tám triệu hai trăm lẻ tám nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó, bao gồm nợ gốc là 132.000.000 đồng, lãi trong hạn là 25.252.159 đồng, lãi quá hạn là 8.861.116 đồng, phạt chậm trả lãi trong hạn 2.095.622 đồng.
- Ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh cho Ngân hàng TMCP K theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 460/20/HĐTD/0500-0304 ngày 25/12/2020 đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP K và ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 kể từ ngày 11/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.
- Xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ:
- Ngân hàng TMCP K có nghĩa vụ trả lại cho ông Huỳnh H bà Trương Thị H1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BV 218381, số vào sổ cấp GCN: CTs 44523 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 13/08/2014, chủ sở hữu là ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 sau khi ông H bà H1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP K.
- Trường hợp ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý phát mãi tài sản thế chấp là Một ngôi nhà có diện tích xây dựng: 103,9m², diện tích sàn: 185,3m²; hình thức sở hữu: Sở hữu riêng, nhà cấp 3 (2 tầng) và Quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 33, tờ bản đồ số 45, diện tích: 214,3m², hình thức sử dụng: Sử dụng riêng, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng: Lâu dài, nguồn gốc sử dụng: Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BV 218381, số vào sổ cấp GCN: CTs 44523 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 13/08/2014, chủ sở hữu là ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 được phát mãi theo quy định tại Điều 299, Điều 322, khoản 7 Điều 323, Điều 303 Bộ luật dân năm 2015 và Điều 56 Nghị định số 163/2006/NĐ-CPvề giao dịch bảo đảm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh H và bà Trương Thị H1 được miễn tiền án phí (có đơn miễn tiền án phí là người cao tuổi). Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí là 3.734.833 đồng (Ba triệu bảy trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm ba mươi ba đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002764 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Về lệ phí và chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000đồng ông Huỳnh H, bà Trương Thị H1 phải chịu. Tuy nhiên, Ngân hàng TMCP K đã nộp tạm ứng trước nên ông H bà H1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000đồng (Ba triệu đồng).
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |
Bản án số 40/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 40/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP K và ông Huỳnh Hường, bà Trương Thị Huệ
