|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 6 - 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Chau Sơn Khánh
- Bà Cao Thị Phương Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc Hân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thái Hòa - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 và 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tri Tôn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vương Mỹ T, sinh năm 1999; địa chỉ: tổ B, khóm N, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Dương Quốc T1, sinh năm 1999; địa chỉ: tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
Bà T, ông T1 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn; lời khai của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án; lời khai trong quá trình hòa giải, bà Vương Mỹ T và ông Dương Quốc T1 có lời khai thống nhất như sau:
Về hôn nhân: Giữa bà T và ông T1 chung sống như vợ chồng vào khoảng giữa năm 2023, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Bà T và ông T1 thống nhất yêu cầu Tòa án không công nhận họ là vợ chồng.
Về con chung: Không có.
Về tài sản: Khi hỏi cưới bà T, ông T1 có nạp tài cho riêng bà T 50 triệu đồng, bà T đã sử dụng số tiền đó để mua được 1,1 cây vàng 24kara, do ông T1 đang giữ.
Bà T yêu cầu ông T1 trả cho bà 1,1 cây vàng 24kara; ông T1 đồng ý trả nhưng bà T phải hoàn trả cho ông 50 triệu đồng tiền nạp tài.
Về tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện T cung cấp kết quả xác minh, xác định bà T và ông T1 chưa đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn, bị đơn cùng xác định số vàng 24kara bị đơn đang giữ gồm 01 vòng kiềng 05 chỉ, một nhẫn bông mai 1,8 chỉ, một nhẫn trơn 2 chỉ, hai nhẫn trơn mỗi nhận 01 chỉ, tổng cộng 1,08 lượng vàng 24kara. Ông T1 đã giao trả đủ tại phiên tòa cho bà T. Bà T rút lại yêu cầu ông T1 trả 1,1 lượng vàng 24kara.
- Thay mặt Hội đồng xét xử, Thẩm phán công bố toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng:
Thẩm phán thực hiện đúng quy định về xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử, cấp tống đạt văn bản tố tụng tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; điểm a, g khoản 2, 3 Điều 97 và các Điều 98, 106, 209, 210, 203, 171 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên còn vi phạm thời gian gửi thông báo thụ lý và hồ sơ xét xử cho Viện kiểm sát.
Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại
khoản 2,3,4 Điều 51; Điều 63; Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 217, 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326: không công nhận Trân, T1 là vợ chồng; đình chỉ yêu cầu về chia tài sản chung do T rút yêu cầu khởi kiện.
Về con chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu trả lại tài sản đối với bị đơn có địa chỉ tại huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai thống nhất của nguyên đơn, bị đơn và kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện T, có cơ sở xác định bà T, ông T1 chung sống từ năm 2023 nhưng không đăng ký kết hôn. Nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Không có.
[2.3] Về tài sản: Tại phiên tòa, ông T1 tự nguyên giao trả bà T 1,08 lượng vàng 24kara, bà T rút lại yêu cầu ông T1 trả cho bà 1,1 lượng vàng 24kara. Việc rút lại yêu cầu của bà T là tự nguyện nên Tòa án đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà T.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp. Hoàn trả cho bà T 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm bà đã nộp tạm ứng đối với yêu cầu đòi 1,1 lượng vàng 24kara. Ông T1 không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 14, 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 244, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Vương Mỹ T và ông Dương Quốc T1.
Về con chung: Không có.
Về tài sản: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Vương Mỹ T về việc yêu cầu ông Dương Quốc T1 có trách nhiệm trả cho bà T 1,1 lượng vàng 24kara.
Về án phí sơ thẩm:
Bà Vương Mỹ T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0012189 ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0012214 ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Ông Dương Quốc T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Vương Mỹ T và ông Dương Quốc T1 có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Tâm |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, tài sản
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Vương Mỹ Trân và ông Dương Quốc Trường. Về con chung: Không có. Về tài sản: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Vương Mỹ Trân về việc yêu cầu ông Dương Quốc Trường có trách nhiệm trả cho bà Trân 1,1 lượng vàng 24kara.
