|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST.
Ngày: 10-5-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Phương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Thủy và ông Mùi Văn Huấn
Thư ký phiên tòa: Ông Cầm Việt Hùng –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Tráng A Trư - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST- ST ngày 06 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Lò Văn T; tên gọi khác: không; sinh năm 2001; tại huyện S, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Xinh Mun; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn T1 (Đã chết) và bà Lò Thị C sinh năm:1981; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V kể từ ngày 21/12/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Mạnh H, Luật sư thực hiện trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh S, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 05 phút, ngày 21/12/2023 Tổ công tác Công an huyện V phối hợp với Đội cảnh sát giao thông đường bộ số 1 thuộc phòng C1 Công an tỉnh S đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản P, xã L, huyện V đã kiểm tra hành chính đối với xe ô tô khách BKS: 26F-00290 của nhà xe P, phát hiện Lò Văn T có biểu hiện ghi vấn liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra, Lò Văn T đã tự giác lấy dưới đệm giường nằm của T đang nằm 01 gói Hồng phiến ra giao nộp cho tổ công tác. Lò Văn T khai nhận đó là ma túy T cất giấu để sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Lò Văn T, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong gói ma túy, đồng thời dẫn giải T về trụ sở Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra, làm rõ.
Ngày 21/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ cùng Phòng K Công an tỉnh S tiến hành kiểm đếm và cân tịnh xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Lò Văn T, kết quả như sau:
- Số viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp kiểm đếm được 31 viên, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY ghi là ma túy tổng hợp, có tổng khối lượng là 3,14 gam. Lấy 5 viên Hồng phiến có khối lượng 0,42 gam làm mẫu giám định ký hiệu là T;
Tại kết luận giám định số: 131 ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,42 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,14 gam Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai: Do là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 18 giờ 00' ngày 20/12/2023 Lò Văn T một mình đi bộ từ nhà bà ngoại của T tại bản Hát Sét, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La đi đến điểm dừng đón xe khách ở khu vực cầu cứng thuộc bản Nhạp, xã M, huyện S. Khi đang đứng đợi xe khách thì T gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi đi xe máy đến, T không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người này và không nhớ biển kiểm soát của xe máy. Qua trao đổi T hỏi mua được của người đàn ông đó 01 gói Hồng phiến được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 500.000 đồng, (khi mua được ma tuý Thuận không kiểm đếm) mục đích để sử dụng. Mua được mua túy T cầm gói ma tuý xuống chân cầu rồi mở gói ma túy ra và lấy 01 viên H1 phiến ra dụng hết. Sau khi sử dụng xong T nhặt 02 mảnh nilon màu trắng ở chân cầu, bọc bên ngoài gói nilon màu hồng đựng số ma túy còn lại rồi cất giấu ở túi quần bên trái phía trước đang mặc trên người rồi đi lên đường đón xe khách. Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, T lên xe khách nhà xe “Phượng Đ” BKS: 26F – 00290 để đi xuống tỉnh Hưng Yên làm thuê. Khi lên xe thì nhà xe xếp cho T nằm ở tầng dưới hàng ghế thứ 5 phía bên ghế lái. Khi lên giường nằm của xe T lấy gói ma tuý ra cất giấu dưới đệm T nằm. Đến 00h05' ngày 21/12/2023 khi xe đi đến khu vực bản P, xã L, huyện V thì T bị tổ công tác Công an huyện V, phối hợp với Đội cảnh sát giao thông đường bộ số 1 thuộc phòng C1 Công an tỉnh S kiểm tra phát hiện bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lò Văn T.
Cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 42 năm đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì ban đầu + TL=2,72 gam Methamphetamine, cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy đối với Lò Văn T.
- - Trả lại cho bị cáo Lò Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu FOXFONE kèm sim số thuê bao 0336.513.012 và số 0896.919.626.
- - Về án phí: Đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo.
- - Ý kiến của Luật sư bào chữa: Cơ bản nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị HĐXX xem xét lượng hình đối với bị cáo cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xử phạt bị cáo 36 tháng tù.
- - Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với lời bào chữa của Luật sư, không bổ sung, không tranh luận gì.
- - Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về chứng cứ xác định có tội và tính chất hành vi phạm tội: Ngày 21/12/2023, Lò Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 3,14 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã cố tình phạm tội rất nghiêm trọng, tàng trữ 3,14 gam Methamphetamine, đã xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy.
- [3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên và luật sư bào chữa
Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng pháp luật, tội danh, hình phạt bổ sung, án phí và xử lý vật chứng là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị HĐXX xử phạt Lò Văn T từ 42 tháng đến 48 tháng tù là không phù hợp. Nên không được HĐXX chấp nhận.
Xét đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư bào chữa cơ bản nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng, tội danh, hình phạt bổ sung, án phí và xử lý vật chứng. HĐXX nhận thấy đề nghị của Luật sư bào chữa về mức án 36 tháng tù đối với bị cáo là chưa tương xứng, không đủ tính răn đe với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị của Luật sư bào chữa về mức án không được HĐXX chấp nhận.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh bị cáo không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là có căn cứ.
- [6] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
- [7] Vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì ban đầu + TL=2,72 gam Methamphetamine, cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy đối với Lò Văn T là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu FOXFONE kèm sim số thuê bao 0336.513.012 và số 0896.919.626 là tài sản hợp pháp của Lò Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Nên HĐXX trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.
- [8] Về nguồn gốc chất ma túy: Lò Văn T khai nhận đã mua được của một đàn ông, không quen biết tại khu vực cầu cứng thuộc Bản Nhạp, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Do đó cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ điều tra làm rõ. Là đúng quy định.
- [9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa, bị cáo xin miễn án phí HSST cho bị cáo. HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 40 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng phong bì ban đầu + TL=2,72 gam Methamphetamine, cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy đối với Lò Văn T.
Trả lại cho bị cáo Lò Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu FOXFONE kèm sim số thuê bao 0336.513.012 và số 0896.919.626.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 41/BBVC-CCTHA ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Phương Giang |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1
