|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/HSST |
|
|
Ngày: 02-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Đen;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Văn Công Trọn;
2. Ông Nguyễn Việt Thắng.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Mỹ Tiên, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Trương Chí Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Huỳnh Tấn Đ. Sinh ngày 15 tháng 02 năm 1996; Nơi đăng ký thường trú: Khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Thanh L, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; Vợ: Trần Bảo T1, sinh năm 1998 (đã ly hôn); Con: 01 người, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 08/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự số: 22/HS-ST (Đã được xoá án tích); Ngày 31/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án hình sự số: 71/HSST (Đã được xoá án tích); Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 02/11/2023, sau đó khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo bị tạm giam có mặt.
- Họ và tên: Tô Lương T2. Sinh ngày 22 tháng 10 năm 1995; Nơi đăng ký thường trú: Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tô Văn L1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961; Vợ: Nguyễn Ngọc Y, sinh năm 2001 (đã ly hôn); Con: 02 người (lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 02/11/2023, sau đó khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo bị tạm giam có mặt.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Hữu Đ1. Sinh năm: 1998; Địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: Khóm G, TT. S, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Tấn Đ làm nghề môi giới cho ngư phủ đi ghe biển. Vào khoảng đầu tháng 10/2023 Nguyễn Hữu Đ1 đến nhà của Huỳnh Tấn Đ thuộc khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau để nhờ Đ giới thiệu cho Đ1 đi ghe biển. Thoả thuận trong lúc chờ xin có ghe đi biển để đánh bắt thuỷ sản thì Đ lo ăn uống, chỗ ở và cho Đ1 mượn tiền chi tiêu, khi nào tìm có ghe cho Đ1 đi biển thì Đ ứng tiền chủ ghe trừ lại các khoản tiền trên và tiền cò Đ giới thiệu cho Đ1 đi ghe biển. Ngày 25/10/2023, Đ tìm được ghe biển giới thiệu cho Đ1 đi đánh bắt thuỷ sản, đến ngày 30/10/2023 do không biết làm công việc trên ghe nên chủ ghe trả Đ1 vào bờ và Đ1 tiếp tục ở tại nhà của Đ để chờ tìm ghe biển khác cho Đ1 đi. Đ tính tiền ăn, tiền ở, các khoản khác và đưa mẫu biên nhận để Đ1 viết nhận nợ Đ số tiền 19.700.000 đồng, khi nào tìm được ghe đi biển khác thì Đức ứng tiền chủ ghe trả lại cho Đ. Do nếu Đ1 bỏ trốn thì Đ sẽ mất người và mất tiền nên Đ1 phải chịu sự quản lý của Đ, khi Đ1 muốn đi đâu thì phải được sự đồng ý của Đ và đi cùng với Đ.
Ngày 31/10/2023, Đ chở Đ1 đến nhà Hồ Văn N1 thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau để nhậu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lợi dụng lúc Đ đi ra quán ăn tối, lúc này Đ1 ở lại nhà của N1 do không muốn đi ghe biển nên Đ1 nảy sinh ý định bỏ trốn, khi Đ1 đi bộ đến đoạn lộ trước cửa hàng Đ2 thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau thì Đ tìm kiếm phát hiện bắt Đ1 lên xe chở về nhà của Đ, khi về đến nhà Đ dùng tay, chân đánh, đá vào người Đ1 nhiều cái do Đ1 bỏ trốn. Sau đó, Đ tiếp tục chở Đ1 lại nhà của N1 nhậu, trong lúc nhậu thì Đặng Chí H điện thoại rủ Đ đến quán K thuộc khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau hát karaoke nên Đ kêu Đ1 ở lại nhậu và ngủ tại nhà của N1. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01/11/2023 thì tại nhà của N1 nghỉ nhậu, đóng cửa, lúc này Đ1 nảy sinh ý định tiếp tục bỏ trốn nên mở cửa ra ngoài và đi bộ về hướng thị trấn T. Sau đó, N1 phát hiện Đ1 bỏ trốn nên gọi điện thoại cho Đ hay, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Raider biển kiểm soát 69N1-834.67 đi tìm Đ1, H điều khiển xe chở bạn gái (chưa rõ nhân thân, lai lịch) chạy theo sau. Khi điều khiển xe một đoạn thì Đ gặp Tô Lương T2 đang điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki biển kiểm soát 68S1-026.03 ngoài đường nên Đ kêu T2 và nói “Thằng Đ1 nó bỏ trốn rồi, bạn đi tìm nó tiếp tôi” thì T2 đồng ý và điều khiển xe theo phía sau của Đ về hướng thị trấn Trần Văn T3 giúp Đ tìm Đ1 đem về nhà cho Đ.
Khi Đ1 đi bộ đến đoạn thuộc ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau thì phát hiện xe mô tô hiệu GRAVITA biển kiểm soát 69N1-007.30 của ông Nguyễn Trần Thiện  đậu cặp mé lộ có gắn sẵn chìa khoá trên xe nên Đ1 điều khiển xe này chạy về hướng thị trấn T. Khi điều khiển xe được khoảng 4km thì Đ1 phát hiện Đ đang điều khiển xe rượt đuổi theo phía sau nên Đ1 tăng ga tiếp tục bỏ chạy đến cách xưởng gỗ Ú thuộc khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau khoảng 100m thì xe Đ1 đang điều khiển hết xăng. Đ1 bỏ xe chạy bộ vào xưởng gỗ Út N2 lẫn trốn, Đ cũng bỏ xe chạy bộ rượt theo tìm và bắt được Đ1, Đ lôi Đ1 kéo ra lộ và khống chế chéo tay Đ1 ra sau lưng để giữ Đ1 chờ đồng bọn đến giúp sức bắt Đ1 đưa về nhà của Đ. Khoảng 10 phút sau, T2 và H điều khiển xe đến vị trí Đ đang bắt, giữ Đ1, Đ khống chế Đ1 đưa lên xe do T2 điều khiển chạy đến chỗ vị trí 02 xe ngã trong lúc Đ rượt đuổi Đ1. Sau đó, T2 điều khiển xe chở Đ1, H điểu khiển xe của Đ1 lấy trộm, Đ điều khiển xe kè phía sau xe của Đ1 lấy trộm để trả lại cho ông Â. Khi về đến vị trí Đ1 lấy trộm xe thì H đậu xe trả lại cho ông Â, sau khi trả xe thì H điều khiển xe chở bạn gái của H đi trước (đi đâu không rõ), T2 điều khiển xe chở Đ1 chạy giữa, Đ chạy sau cùng.
Khi về đến nhà của Đ thuộc khóm G, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau thì T2 giao Đ1 lại cho Đ và T2 đi về nhà của T2. Sau đó, Đ khoá cửa giữ Đ1 trong nhà và tiếp tục dùng tay, chân đánh, đá vào người Đ1 và hâm doạ Đ1 không được bỏ trốn, phải ở nhà Đ chờ đi ghe biển để lấy tiền công trả nợ cho Đ. Đ giữ Đ1 đến ngày 02/11/2023, thì Đ tiếp tục đánh và đe doạ Đ1 không được bỏ trốn, người dân phát hiện trình báo nên Công an thị trấn S kiểm tra hành chính, phát hiện sự việc nên lập biên bản và mời tất cả về trụ sở làm việc.
Còn thu giữ đồ vật sau đây hiện chưa xử lý gồm: 01 xe mô tô hiệu Raider, biển kiểm soát 69N1-834.67; 01 xe mô tô hiệu Suzuki màu đỏ-trắng, biển kiểm soát 68S1-026.03; 01 điện thoại màn hình cảm ứng hiệu Iphone 12 Promax màu xanh; 01 điện thoại Sam sung Galaxy S105 màu đen, số Imei 355374101823201, có sim số 0946.550.771, bị vở kính màn hình; 01 đầu thu camera màu trắng có chữ IMOU; 01 thẻ nhớ của đầu camera hiệu IMOU màu trắng; 01 ổ khoá và chìa khoá hiệu Maxpro top seuurity.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Tô Lương T2 về tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015; bị cáo Huỳnh Tấn Đ về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa,
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 157, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Tấn Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tô Lương T2. Căn cứ vào Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Đ từ 01 năm đến 02 năm tù giam về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Xử phạt bị cáo Tô Lương T2 từ 06 tháng đến 01 năm tù giam về tội “Bắt người trái pháp luật”.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Tấn Đ bồi thường cho người bị hại Nguyễn Hữu Đ1 số tiền 2.000.000 đồng (Hiện nay phía bị cáo Đ đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 2.000.000 đồng tại biên lai thu số 0001048 ngày 02/5/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Trần Văn Thời).
Về vật chứng: Trả lại cho bà Huỳnh Hồng N3 01 (Một) xe mô tô hiệu Raider, biển kiểm soát số 69N1-834.67, trả lại cho bị cáo Huỳnh Tấn Đ 01 (Một) điện thoại di động hiệu iphone 12 Promax màu xanh, đã niêm phong bằng phong bì bằng giấy, có chữ ký họ tên Nguyễn Trường T4, Trần Phương V, 01 (Một) đầu thu camera màu trắng có chữ IMOU, 01 (Một) thẻ nhớ của đầu camera hiệu IMOU màu trắng, niêm phong trong bì có chữ ký tên của Huỳnh Tấn Đ, Nguyễn Trường T4. Trả lại cho bị cáo Tô Lương T2 01 (Một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy S105 màu đen, số imei 355374101823201, sim số 0946.550.771, bị vở kính màn hình, đã niêm phong bằng phong bì bằng giấy, trên phong bì có chữ T2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (Một) xe mô tô hiệu Suzuki màu đỏ - trắng, biển kiểm soát số 68S1-026.03. Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) ổ khoá và chìa khoá hiệu Maxpro top seuurity, trong phong bì niêm phong có chữ ký và tên Huỳnh Tấn Đ.
Tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Tấn Đ, Tô Lương T2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình, các bị cáo yêu cầu Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo và phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T3 và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận Vào ngày 31/10/2023, khi đang ở tại nhà của Hồ Văn N1 do Nguyễn Hữu Đ1 không muốn đi ghe biển nên bỏ trốn thì Huỳnh Tấn Đ tìm kiếm phát hiện bắt Đ1 lên xe chở về nhà của Đ, khi về đến nhà Đ khoá cửa dùng tay, chân đánh, đá vào người Đ1 nhiều cái, đe doạ Đ1 không được bỏ trốn, sau đó Đ tiếp tục chở Đ1 lại nhà của N1 nhậu. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01/11/2023, tại nhà của N1, Đ1 nảy sinh ý định tiếp tục bỏ trốn thì Đ cùng Tô Lương T2 và Đặng Chí H đi tìm Đ1, khi phát hiện Đ1 thì Đ khống chế Đ1 và đưa lên xe để T2 chở Đ1 về nhà Đ giao lại cho Đ, sau đó Đ khoá cửa lại tiếp tục dùng tay, chân đánh, đá vào người Đ1 và hâm doạ Đ1 không được bỏ trốn. Đến ngày 02/11/2023 Công an thị trấn S kiểm tra hành chính nhà của Đ thì phát hiện vụ việc.
Lời khai nhận của bị cáo Tô Lương T2 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với lời khai của những người làm chứng; phù hợp với tài liệu chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo được thực hiện một cách cố ý.
Như vậy, hành vi của bị cáo Tô Lương T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Huỳnh Tấn Đ, tại phiên toà ngày 02/4/2024 bị cáo Huỳnh Tấn Đ cho rằng bị cáo chỉ phạm tội bắt giữ người trái pháp luật một lần nhưng cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo tại điểm d khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự là không đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo cho rằng quá trình điều tra truy tố đã khiếu nại vấn đề này nhưng chưa được xem xét. Sau đó Toà án tiến hành hoãn phiên toà do vắng mặt bị hại và tiến hành làm rõ những vấn đề mà bị cáo Đ nêu ra.
Ngày 02/4/2024 Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời có Công văn số 09/CV-TA V/v bổ sung hồ sơ vụ án về những vấn đề trên như sau: “Tại tờ nhận sai, bản tự khai ngày 02/11/2023 bị cáo chỉ thừa nhận lần phạm tội 01/11/2023, tại biên bản thực nghiệm điều tra ngày 13/12/2023 trước khi ký tên bị cáo có ghi ý kiến: “khi đưa Đ1 về tới nhà tôi kêu Đức tự mở cửa vào nhà chứ tôi không nắm kéo Đ1 vào nhà...” và tại các biên bản hỏi cung bị can vào các ngày 05/11/2023, 11/11/2023, 25/01/2024 bị cáo Huỳnh Tấn Đ lần lượt khai nhận lần phạm tội ngày 31/10/2023, tại đơn yêu cầu xử lý hình sự ngày 02/11/2023 của người bị hại Nguyễn Hữu Đ1 cũng khai có lần phạm tội của bị cáo ngày 31/10/2023...”
Tuy lời khai của bị cáo và bị hại có những chỗ chưa đồng nhất nhưng bản chất của vụ việc vẫn không thay đổi như: “Ngày 25/10/2023, Đ tìm được ghe biển giới thiệu cho Đ1 đi đánh bắt thuỷ sản, đến ngày 30/10/2023 do không biết làm công việc trên ghe nên chủ ghe trả Đ1 vào bờ và Đ1 tiếp tục ở tại nhà của Đ để chờ tìm ghe biển khác cho Đ1 đi. Đ tính tiền ăn, tiền ở, các khoản khác và đưa mẫu biên nhận để Đ1 viết nhận nợ Đ số tiền 19.700.000 đồng, khi nào tìm được ghe đi biển khác thì Đức ứng tiền chủ ghe trả lại cho Đ. Do nếu Đ1 bỏ trốn thì Đ sẽ mất người và mất tiền nên Đ1 phải chịu sự quản lý của Đ, khi Đ1 muốn đi đâu thì phải được sự đồng ý của Đ và đi cùng với Đ” do đó người bị hại Nguyễn Hữu Đ1 là người lệ thuộc vào bị cáo Huỳnh Tấn Đ, bị hại được bị cáo Đ nuôi dưỡng, lo việc sinh hoạt hằng ngày...do là người bị lệ thuộc nên không dám chống trả lại bị cáo Đ nên ngày 31/10/2023 khi người bị hại bỏ trốn và bị bị cáo Đ phát hiện và tìm lại được thì bị hại Đ1 ngầm hiểu và tự động leo lên xe của bị cáo Đ để bị cáo Đ chở về và sau khi chở về thì người bị hại bị bị cáo Đ đánh đập và hăm doạ không cho bỏ trốn...phù hợp với các lời khai nhận của bị cáo tại các biên bản hỏi cung bị can vào lúc 09 giờ 50 phút ngày 11/11/2023, 09 giờ ngày 05/11/2023, ngày 16, 25/01/2024 (Bút lục số 98, 99, 123 đến 130), phù hợp với lời khai nhận của người bị hại Nguyễn Hữu Đ1 và quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã nhận được kết luận điều tra và cáo trạng nhưng bị cáo không có ý kiến (bút lục 336, 362) và lần phạm tội ngày 31/10/2023 là do chính bị cáo Đ tự khai nhận và tại phiên toà hôm nay bị cáo Huỳnh Tấn Đ đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo cho rằng cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội không oan sai đối với bị cáo.
Nên bị cáo Huỳnh Tấn Đ đã phạm vào tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định.
“1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
d) Phạm tội 02 lần trở lên”.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến thân thể, quyền tự do cá nhân, sức khỏe của con người, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền tự do, dân chủ rất quan trọng của công dân được bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật. Xâm phạm đến quyền này chính là xâm phạm đến quyền con người, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phương.
Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T3 truy tố bị cáo Tô Lương T2 về tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015; bị cáo Huỳnh Tấn Đ về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Đối với bị cáo Huỳnh Tấn Đ: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có, về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt, ngày 08/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự số: 22/HS-ST (Đã được xoá án tích); Ngày 31/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án hình sự số: 71/HSST (Đã được xoá án tích).
Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục hậu quả cho người bị hại, gia đình có công với cách mạng có ông nội của bị cáo là ông Huỳnh Tấn L2 được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo Huỳnh Tấn Đ là bị cáo đầu vụ, bị cáo có vai trò cốt yếu, chỉ vì lợi nhuận lợi ích cá nhân mà bị cáo đã bắt, giữ người bị hại Nguyễn Hữu Đ1 thậm chí là đánh đập bị hại, điều này cho thấy sự hun hãn xem thường pháp luật, do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo Tô Lương T2 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng có ông ngoại của bị cáo là ông Đỗ Hữu L3 được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Đối với Đặng Chí H và Hồ Văn N1, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T kết hợp Công an thị trấn S nhiều lần đến nơi thường trú của H và N1 mời H và N1 làm việc nhưng H và N1 không có mặt tại địa phương, đến nay chưa làm việc được với H và N1 nên không có đủ chứng cứ chứng minh các đối tượng đồng phạm trong vụ án. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Trần Văn T3 tách ra để tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Hữu Đ1 có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát 69N1-007.30 của ông Nguyễn Trần Thiện Â, nhưng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Đối với số tiền 19.700.000 đồng mà người bị hại Nguyễn Hữu Đ1 còn nợ bị cáo Huỳnh Tấn Đ, do quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Đ không có yêu cầu và đây là giao dịch dân sự giữa bị cáo và bị hại nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết ở một án dân sự khác.
[4] Vật chứng trong vụ án: Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki màu đỏ-trắng, biển kiểm soát 68S1-026.03 của bị cáo Huỳnh Tấn Đ khai là mua qua mạng internet và bị mất giấy tờ và tại phiên toà bị cáo không có yêu cầu được nhận lại chiếc xe nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Chiếc xe mô tô hiệu Raider, biển kiểm soát 69N1-834.67 bị cáo Tô Lương Tuấn mượn của bà Huỳnh Hồng N3, khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bà N3 không biết và bà N3 có yêu cầu được nhận lại chiếc xe, do đó cần trả lại xe mô tô hiệu Raider, biển kiểm soát 69N1-834.67 cho bà Huỳnh Hồng N3. 01 điện thoại màn hình cảm ứng hiệu Iphone 12 Promax màu xanh và 01 đầu thu camera màu trắng có chữ IMOU; 01 thẻ nhớ của đầu camera hiệu IMOU màu trắng của bị cáo Huỳnh Tấn Đ, 01 điện thoại Sam sung Galaxy S105 màu đen, số Imei 355374101823201, có sim số 0946.550.771, bị vở kính màn hình của bị cáo Tô Lương T2 không liên quan đến quá trình phạm tội của các bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo T2, Đ. 01 ổ khoá và chìa khoá hiệu Maxpro top seuurity không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đối với Huỳnh Tấn Đ có hành vi dùng tay, chân đánh, đá xâm hại sức khoẻ của Nguyễn Hữu Đ1, do Đ1 bị thương tích nhẹ nên không yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi trên. Vì vậy, Công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Quá trình điều tra người bị hại không có yêu cầu bồi thường tổn thất, tuy nhiên tại phiên toà bị cáo Huỳnh Tấn Đ tự nguyện khắc phục hậu quả cho người bị hại Nguyễn Hữu Đ1 số tiền 2.000.000 đồng, đây là những chi phí hợp lý mà người bị hại bị tổn thất do hành vi của bị cáo gây ra. Căn cứ Điều 590 Bộ luật Dân sự Tòa án công nhận sự tự nguyện và buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho người bị hại.
[6] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T6 về án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Huỳnh Tấn Đ và Tô Lương T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo Huỳnh Tấn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 157, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Tấn Đ.
Căn cứ khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tô Lương T2.
Căn cứ vào Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, .
Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn Đ phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, bị cáo Tô Lương T2 phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Đ 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 02/11/2023.
Xử phạt bị cáo Tô Lương T2 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 02/11/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Tấn Đ bồi thường cho người bị hại Nguyễn Hữu Đ1 số tiền 2.000.000 đồng (Hiện nay phía bị cáo Đ đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 2.000.000 đồng tại biên lai thu số 0001048 ngày 02/5/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Trần Văn Thời).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về vật chứng: Trả lại cho bà Huỳnh Hồng N3 01 (Một) xe mô tô hiệu Raider, biển kiểm soát số 69N1-834.67, trả lại cho bị cáo Huỳnh Tấn Đ 01 (Một) điện thoại di động hiệu iphone 12 Promax màu xanh, đã niêm phong bằng phong bì bằng giấy, có chữ ký họ tên Nguyễn Trường T4, Trần Phương V, 01 (Một) đầu thu camera màu trắng có chữ IMOU, 01 (Một) thẻ nhớ của đầu camera hiệu IMOU màu trắng, niêm phong trong bì có chữ ký tên của Huỳnh Tấn Đ, Nguyễn Trường T4. Trả lại cho bị cáo Tô Lương T2 01 (Một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy S105 màu đen, số imei 355374101823201, sim số 0946.550.771, bị vở kính màn hình, đã niêm phong bằng phong bì bằng giấy, trên phong bì có chữ T2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (Một) xe mô tô hiệu Suzuki màu đỏ - trắng, biển kiểm soát số 68S1-026.03. Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) ổ khoá và chìa khoá hiệu Maxpro top seuurity, trong phong bì niêm phong có chữ ký và tên Huỳnh Tấn Đ.
- Về án phí: Bị cáo Huỳnh Tấn Đ, Tô Lương T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Tấn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Đen |
Bản án số 40/2024/HSST ngày 02/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về bắt, giữ người trái pháp luật
- Số bản án: 40/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Bắt, giữ người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tô Lương T, Huỳnh Tấn Đ bắt giữ người trái pháp luật.
