Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09-5-2024

V/v "Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khương Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Minh Lý;
  2. Ông Trương Ngọc Điệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phương Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 504/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà ngày 15 tháng 4 năm 2024:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Đức H, sinh năm 1975; địa chỉ thường trú: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ liên hệ: Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh B - đường D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969; địa chỉ tạm trú: số F, đường H, Tổ E, Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: 9 đường C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Bùi Đức H trình bày:

Ông Bùi Đức H và bà Nguyễn Thị P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 164 ngày 21/12/2015. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Bà Phước thường xuyên chửi con gái riêng của ông H, làm cho cháu bị sợ hãi, làm ảnh hưởng đến việc học tập của cháu. Bà P1 cũng hay gọi điện cho mẹ của ông H và nói những lời khó nghe làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của mẹ ông H. Ngoài ra, bà Phước còn gọi điện đến nơi làm việc của ông H làm ảnh hưởng đến đồng nghiệp và công việc của ông H. Từ tháng 6/2023 đến nay ông H không còn sống chung nhà với bà Phước. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông H được ly hôn với bà Nguyễn Thị P. Đối với yêu cầu của bà Phước về việc trong trường hợp Tòa án giải quyết cho ông H ly hôn với bà Phước thì bà Phước yêu cầu ông H cấp dưỡng cho bà Phước 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng thì ông H không đồng ý, ông H chỉ đồng ý cấp dưỡng cho bà Phước sau khi ly hôn với số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông H và bà Phước không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông H và bà Phước không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện nguyên đơn đã giao nộp bản sao các tài liệu, chứng cứ sau: Căn cước công dân của ông Bùi Đức H (bản photo chứng thực); Căn cước công dân của bà Nguyễn Thị P (bản photo); Trích lục kết hôn (bản sao); Bản tự khai của ông Bùi Đức H.

Tại bản tự khai ngày 14/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Bà Phước thống nhất với ý kiến của ông Bùi Đức H về thời gian kết hôn. Bà P1 cho rằng trong quá trình chung sống với nhau bà Phước và ông H không có bất cứ mâu thuẫn gì. Hiện nay, ông Bùi Đức H yêu cầu ly hôn, bà Phước không đồng ý do bà Phước hiện đang bị suy thận giai đoạn cuối, không có tài sản, hiện tại phải ở nhà thuê. Tuy nhiên, nếu phải ly hôn, bà Phước yêu cầu ông H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Phước số tiền 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng do sức khoẻ bà Phước yếu, không còn khả năng lao động.

- Về con chung: Bà Phước và ông H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà P1 và ông H không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ do bị đơn giao nộp bản sao: Bản sao Căn cước công dân của bà Phước; Bản tự khai ngày 14/3/2024; Bảng kê chi phí khám, chữa bệnh nội trú; Bảng kê chi phí điều trị ngoại trú; giấy ra viện và các phiếu thu tạm ứng của bà Nguyễn Thị P.

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án: Biên bản xác minh ngày 27/3/2024 của Tòa án tại khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Biên bản xác minh ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ngày 27/3/2024, nguyên đơn ông Bùi Đức H có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thay đổi hay bổ sung yêu cầu.

Bị đơn bà Nguyễn Thị P trình bày: Trong cuộc sống vợ chồng giữa ông H và bà Phước thì không có mâu thuẫn gì lớn, nhưng từ đầu năm 2023 thì mối quan hệ vợ chồng giữa ông H và bà Phước đã lạnh nhạt, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, ông H mỗi khi đi làm về thì vào phòng riêng đóng cửa lại, không nói chuyện gì với bà Phước và cũng không cho bà Phước nói gì với ông H. Từ tháng 6/2023, thì ông H không còn sống chung nhà với bà Phước. Bà Phước vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn với nguyên đơn ông Bùi Đức H. Tuy nhiên, trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà Phước yêu cầu ông H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Phước số tiền 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng. Bà Phước có hai người con riêng sinh năm 2015, từ khi ông H không còn chung sống với bà Phước thì hiện nay bà Phước đã dọn về sống cùng con riêng của mình. Các con của bà Phước có việc làm ổn định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa có ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị sửa chữa, bổ sung gì về phần thủ tục. Về nội dung, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với yêu cầu cấp dưỡng của bị đơn, do bị đơn hiện đang mắc bệnh thận giai đoạn cuối, không có khả năng lao động để nuôi sống bản thân và chữa bệnh, nhận thấy yêu cầu của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bị đơn là có cơ sở, nhưng căn cứ vào thu nhập hàng tháng của nguyên đơn trung bình là 17.700.000 đồng/tháng, số tiền 6.500.000 đồng/tháng mà bị đơn yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng là không phù hợp với khả năng của nguyên đơn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ông Bùi Đức H và bà Nguyễn Thị P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 164 ngày 21/12/2015. Ông Bùi Đức H có đơn xin ly hôn với bà Nguyễn Thị P. Như vậy, quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn ông H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng nguyên đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Ông Bùi Đức H và bà Nguyễn Thị P là vợ chồng, tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 164 ngày 21/12/2015 nên quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Ông H yêu cầu được ly hôn với bà Phước vì trong quá trình chung sống thì thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà Phước cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng bà không có gì lớn, nhưng tại phiên tòa bà Phước trình bày kể từ đầu năm 2023 thì cuộc sống tình cảm vợ chồng giữa ông H và bà Phước đã lạnh nhạt, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, từ đầu tháng 6/2023 thì ông H đã không còn sống chung nhà với bà Phước. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng giữa ông H và bà Phước đã trầm trọng, vợ chồng không còn chung sống, không quan tâm, chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống là đã vi phạm Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần, nhưng ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không muốn hàn gắn, đoàn tụ chung sống với bà Phước. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của ông H đối với bà Phước là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Ông H và bà Phước không có con chung trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.4] Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình có quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: “Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”. Bà Phước không còn khả năng lao động, hiện đang mắc bệnh thận hiểm nghèo, không có tài sản, nên yêu cầu của bà Phước về việc trong trường hợp Tòa án giải quyết cho ông H và bà Phước ly hôn thì ông H phải cấp dưỡng cho bà Phước là có cơ sở theo quy định pháp luật nên được chấp nhận. Xét yêu cầu của bà Phước về việc ông H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Phước số tiền 6.500.000 đồng/tháng: Xét khả năng của ông H, nhận thấy thu nhập của ông H trung bình là 17.700.000 đồng/tháng theo kết quả xác minh của Tòa án tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh B, hàng tháng ông H còn phải nuôi con riêng của mình đang học đại học và cấp dưỡng nuôi mẹ già ở quê. Ngoài ra, bà Phước cũng có 02 người con riêng đều đã trưởng thành, đã đi làm và có thu nhập ổn định, theo quy định tại Điều 111 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”, vì vậy nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Phước sau khi ly hôn với ông H ngoài nghĩa vụ cấp dưỡng của ông H còn có nghĩa vụ cấp dưỡng của hai người con riêng của bà Phước. Để đảm bảo sau khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho bà Phước thì ông H vẫn đủ điều kiện kinh tế để ổn định cuộc sống của mình sau khi ly hôn. Do đó, yêu cầu của bà Phước về việc buộc ông H phải cấp dưỡng cho bà với số tiền 6.500.000 đồng/tháng là nhiều, không phù hợp với khả năng của ông H nên không được chấp nhận. Xét đề nghị của ông H về việc tự nguyện cấp dưỡng cho bà Phước số tiền 3.000.000 đồng/tháng là ít, chưa phù hợp với chi phí sinh hoạt, chi phí điều trị bệnh hàng tháng của bà Phước do đó không được chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ khả năng của ông H và chi phí cần thiết cho các nhu cầu thiết yếu của bà Phước mỗi tháng thì số tiền cấp dưỡng của ông H cho bà Phước là 4.000.000 (bốn triệu) đồng/tháng là phù hợp. Do đó, buộc ông H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Phước sau khi ly hôn với số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng/tháng.

[3] Từ những nhận định trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Đức H đối với bị đơn bà Nguyễn Thị P về việc ly hôn. Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng: Nguyên đơn ông Bùi Đức H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 235; Điều 228; Điều 266; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 57, 111, 115, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Đức H đối với bà Nguyễn Thị P về việc ly hôn.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Đức H được ly hôn đối với bà Nguyễn Thị P.
  • Giấy chứng nhận kết hôn số 164, ngày 21/12/2015 do UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp cho ông Bùi Đức H và bà Nguyễn Thị P không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Về con chung: Ông Bùi Đức H và bà Nguyễn Thị P không có con chung, không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp, không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng sau khi ly hôn: Buộc ông Bùi Đức H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Nguyễn Thị P số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Bùi Đức H chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thì hàng tháng ông H phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí: Ông Bùi Đức H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng, tổng cộng là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000472 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Ông H còn phải tiếp tục nộp số tiền án phí còn lại là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo luật định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND Tp. Thủ Dầu Một;
  • - CCTHADS Tp. Thủ Dầu Một;
  • - UBND phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khương Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Bùi Đức H được ly hôn đối với bà Nguyễn Thị P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger