1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HS-ST
Ngày: 08-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Hoàng
Ông Vũ Văn Quân
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Mãi, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tý - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Ngô Tấn T, sinh ngày 01/01/1980, tại tỉnh Tây Ninh;
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn S và bà Phạm Thị L; Bị cáo có vợ là Bùi Thị H và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 28/01/2008, bị Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 25/6/2008, đã được xóa án tích. Ngày 17/7/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 04/9/2014, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/11/2023, chuyển tạm giam từ ngày 16/11/2023, đến ngày 02/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang Bảo lĩnh cho đến nay. (có mặt tại phiên tòa)
2. Nguyễn Trường G (tên gọi khác là: B), sinh ngày 10/5/1987, tại huyện G, tỉnh Tây Ninh;
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R và bà Nguyễn Thị T1; Bị cáo từng có vợ là Huỳnh Thị Cẩm T2 (nhưng đã ly hôn năm 2022) và 01 người con, sinh năm 2019; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 05/4/2024 cho đến nay. (có mặt tại phiên tòa)
2
Bị hại: Ông Nguyễn Trọng T3, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Ngô Tuấn T4, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
2. Anh Huỳnh Văn L1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
3. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1960; Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản cáo trạng số 39/CT-VKSTT ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xác định: Do có quen biết từ trước, vào ngày 01/10/2023, Ngô Tấn T rủ Nguyễn Trường G mua điện thoại di động giá rẻ giả kiểu dáng và hiệu Iphone 14 Promax kèm theo hóa đơn mua điện thoại Iphone 14 Promax giả, để tìm người khác lừa bán lại điện thoại Iphone 14 Promax giả với giá cao và chiếm đoạt tiền chia nhau tiêu xài cá nhân, G đồng ý. Sau đó, T một mình điều khiển xe mô tô từ huyện G, tỉnh Tây Ninh đến tại góc ngã tư đường N, Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ địa chỉ cụ thể) gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) bán điện thoại di động dạo trên lề đường, tại đây T hỏi và mua 01 điện thoại giả kiểu dáng và hiệu Iphone 14 Promax và kèm theo 01 hóa đơn nội dung: “Hóa đơn giá trị gia tăng mua 01 điện thoại Iphone 14 Promax A, IMEIL: 352301451459487 với giá 41.990.000đ, ngày 26/9/2023 có đóng hình dấu tròn hình dấu sao in “Công ty cổ phần T7 *S.Đ.K.Đ: 10300 Số 41.C.I.C.P* Quận A Thành phố Hồ Chí Minh” với tổng số tiền là 1.950.000 đồng. Đến ngày 05/10/2023, T một mình điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu xanh, biển số 66N1-290.42, G điều khiển xe mô tô hiệu Vario, màu đen (không rõ biển số) chở Ngô Tấn H1, sinh năm 2009 (con ruột T) ngồi phía sau. Sau đó, T, G, H1 xuất phát đi từ nhà của T ở Ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh lưu thông về hướng huyện T, tỉnh Long An, để tìm người dân sau đó lừa dối bán lại điện thoại giả kiểu dáng và hiệu Iphone 14 Promax để chiếm đoạt tiền cùng chia nhau tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, T, G điều khiển xe mô tô đến trước tiệm cửa sắt của anh Nguyễn Trọng T3 tại ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Long An, do trời đang mưa nên T, G và H1 ghé vào mái hiên nhà của anh T3 để trú mưa. Lúc này, anh T3 đang hàn cửa
3
sắt trước nhà, T thấy anh T3 đang hàn cửa sắt trước nhà nên nảy sinh ý định lừa bán điện thoại cho anh T3, T nói với anh T3 “Anh em đi chơi nhưng kẹt tiền bán điện thoại Iphone 14 Promax mới mua năm, bảy triệu gì mua không” thì T3 trả lời là không mua. T tiếp tục nói với T3 là điện thoại mới mua cần tiền nên mới bán lại, thì T3 trả lời không mua. Sau đó, để T3 tin tưởng đây là điện thoại Iphone 14 Promax chính hãng mới mua với giá cao, T lấy 01 “Hóa đơn giá trị gia tăng mua 01 điện thoại Iphone 14 Promax A, IMEIL: 352301451459487 với giá 41.990.000đ, ghi ngày 26/9/2023 có đóng hình dấu tròn hình dấu sao in “Công ty cổ phần T7 *S.Đ.K.Đ: 10300 Số 41.C.I.C.P* Quận A Thành phố Hồ Chí Minh”, đưa cho T3 xem và kiểm tra. Lúc này, T3 nhìn thấy trên hóa đơn điện thoại Iphone 14 Promax mới mua vào ngày 26/9/2023 tại Cửa hàng T8 với giá 41.990.000đ. Sau khi T3 xem hóa đơn xong, T tiếp tục nói với T3 là kẹt tiền gấp nên mới bán lại điện thoại, Thạnh lúc này nói bán giá 10.000.000đ, lúc này T3 tin đây là điện thoại Iphone 14 Promax chính hãng thật do có hóa đơn mà T đưa cho T3 xem nên T3 đồng ý mua lại điện thoại nhưng do không có tiền mặt nên T3 có nói với T là không có tiền mặt chỉ có tiền trong tài khoản. Sau đó, T kêu G cho T3 số tài khoản của G mở tại ngân hàng N (S1) số [...] để T3 chuyển tiền cho G, sau đó T3 chuyển tiền từ số tài khoản Ngân hàng TMCP Đ1 (B) của T3 số 6860250798 sang số tài khoản S1 số [...] của G với số tiền 10.000.000đ với nội dung “NGUYEN TRONG TAI Chuyen tien”, sau khi G nhận được 10.000.000đ trong tài khoản thì T, G, H1 điều khiển xe mô tô về nhà T tại Ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, G chia cho T số tiền là 2.200.000đ và trả lại T số tiền đã bỏ ra trước đó để mua điện thoại và hóa đơn giả là 1.950.000₫.
Đến ngày 07/10/2023, anh T3 đem điện thoại đi động Iphone 14 Promax mua từ T đến cửa hàng điện thoại di động “Út Hiền” tại Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An để kiểm tra xem có đúng điện thoại đi động Iphone 14 Promax chính hãng không nhưng qua kiểm tra phát hiện đây không phải là điện thoại Iphone 14 Promax chính hãng nên T3 điện thoại trình báo đến Công an xã T, huyện T, tỉnh Long An. Đến sáng ngày 07/11/2023, T tiếp tục mua 03 thoại đi động giả hiệu và kiểu dáng Iphone 15 Promax giả giá rẻ 1.950.000đ/01 điện thoại từ một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại góc ngã tư đường N, Thành phố Hồ Chí Minh và rủ Huỳnh Văn L1 đi bán điện thoại sẽ cho tiền L1. Sau đó, T khiển xe mô tô chở L1 ngồi phía sau đi từ nhà T ở tỉnh Tây Ninh lưu thông theo đường Quốc lộ N2 xuống địa bàn huyện T, tỉnh Long An, mục đích tiếp tục tìm người lừa đảo bán điện thoại giá cao cho người khác như lần trước. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, khi T đang điều khiển xe mô tô hiệu Wave chở L1 ngồi phía sau lưu thông trên đoạn đường thuộc huyện T, tỉnh Long An, thì bị anh T3 đang điều khiển xe ô tô dịch vụ trở khách phát hiện, anh T3 điều khiển xe ô tô chạy theo phía sau T và trình báo lực lượng Công an xã T, xã T huyện T, tỉnh Long An phối hợp mời Thạnh về làm việc, qua làm việc T tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Đến ngày 27/3/2024, Nguyễn Trường G tự nguyện đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
4
Tại Bản Kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng Kỹ Thuật hình sự tỉnh L. Kết luận: Hình dấu tròn “Công ty cổ phần T7 *S.Đ.K.Đ: 10300 Số 41.C.I.C.P* Quận A Thành phố Hồ CHí Minh” màu đỏ trên tờ “Hóa đơn giá trị gia tăng” ký hiệu A là hình dấu sao in.
Tại Công văn số 281/HM-XĐHG-2023 ngày 10/11/2023 của Công ty TNHH H2 về việc xác định hàng hóa có dấu hiệu vi phạm sở hữu trí tuệ, xác định 01 điện thoại di động màu tím (kiểu dáng giống Iphone 14 Promax) số sêri: DNPZD#QRN6YK, số IMEI: 352301451459487 là hàng giả mạo nhãn hiệu Apple.
Bị can T, bị can G phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; T và G đã bồi thường bị hại số tiền 10.000.000đ; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can T và G, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị can T và G phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Bị can T và G phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ:
- - 01 điện thoại di động màu tím, kiểu dáng giống Iphone 14 Promax, số sê ri: DNP2Z3QRN6YK, số IMEI 352301451459487, không gắn thẻ sim do bị hại Nguyễn Trọng T3 giao nộp, đây là vật chứng vụ án;
- - 01 xe mô tô, hiệu Wave Anpha, màu xanh, biển số 66N1-290.42, số máy JA39E0164999, số khung: 3900HY164965, thuộc sở hữu hợp pháp của bị can Ngô Tấn T, T sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội;
- - 01 điện thoại di động kiểu giáng giống Iphone 15 Promax, số mô hình 3F888VN/A, màu xanh, số sê ri: VHJG954N63, không gắn thẻ sim, thu giữ trên người bị can Ngô Tấn T, không sử dụng vào việc phạm tội vào ngày 05/10/2023;
- - 02 điện thoại di động kiểu giáng giống Iphone 15 Promax, số mô hình 3F888VN/A, màu xám, số sê ri: VHJG954N63, không gắn thẻ sim, thu giữ trên người bị can Ngô Tấn T, không sử dụng vào việc phạm tội vào ngày 05/10/2023;
Riêng đối với với xe mô tô hiệu Vario, màu đen (không rõ biển số), G sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 05/10/2023. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cùng với T, G đi Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê và đã bán xe mô tô trên cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) Thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được.
Tất cả vật chứng trên cần tiếp tục tạm giữ chờ xét xử, các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, bị hại Nguyễn Trọng T3 yêu cầu bị can Ngô Tấn T, Nguyễn Trường G bồi thường số tiền 10.000.000đ. Bị can Ngô Tấn T đã tác động Ngô Tấn T5 (em ruột bị can T) bồi thường xong
5
số tiền 10.000.000đ cho bị hại Nguyễn Trọng T3. Sau đó, Nguyễn Trường G đã bỏ ra số tiền 5.000.000đ để trả lại cho Ngô Tấn T5. Hiện nay, bị hại T3 không có yêu cầu gì thêm.
Đối với anh Ngô Tấn T5 (em ruột bị can T) đã bỏ ra số tiền 5.000.000₫ bồi thường thay cho bị can T nhưng hiện nay T5 không có yêu cầu bị can T hoàn trả lại số tiền trên.
Trên cơ sở kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Long An, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An đã kết luận:
Hành vi của Ngô Tấn T, Nguyễn Trường G đã phạm về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
...
d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
...”
Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
Bị can Ngô Tấn T, Nguyễn Trường G được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bị can Ngô Tấn T, Nguyễn Trường G được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
6
Đối với Ngô Tấn H1, sinh năm 2009 (con ruột bị can Ngô Tân T6): vào ngày 05/10/2023 cùng đi theo với bị can Ngô Tấn T nhưng H1 còn nhỏ và mới 14 tuổi nên không biết bị can Ngô Tấn T, Nguyễn Trường G thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, hành vi của Ngô Tấn H1 không đồng phạm với Ngô Tấn T, Nguyễn Trường G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Đối với Huỳnh Văn L1: Vào ngày 07/11/2023, được bị can Ngô Tấn T rủ đi bán điện thoại sẽ cho tiền, nhưng L1 không biết và T cũng không nói rõ cho L1 biết là cùng đi lừa đảo bán điện thoại giả nhãn hiệu và kiểu dáng Iphone 15 Promax để chiếm đoạt tiền của người khác. Đồng thời, vào ngày 07/11/2023 khi đang điều khiển xe trên đường thì T và L1 bị mời về làm việc, chưa thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý.
Từ đó, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An đã truy tố các bị cáo T, bị cáo G về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo: Ngô Tấn T, Nguyễn Trường G thừa nhận hoàn toàn hành vi phạm tội và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Nguyễn Trọng T3 xác định đã nhận đầy đủ tiền bồi thường, không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo. Về trách nhiệm hình sự: Bị hại T3 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội về chăm lo gia đình.
Kiểm sát viên đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo T, bị cáo G đã gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử quyết định như sau:
- - Đối với hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, đề nghị:
- + Về Tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Ngô Tấn T, bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- - Về Hình phạt:
- Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Tấn T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
- Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.
- - Đối với hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị:
- + Về Tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Ngô Tấn T, bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Về Hình phạt:
7
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Tấn T từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G từ 06 tháng tù đến 01 năm tù.
- Đề nghị áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Ngô Tấn T từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm 06 tháng tù.
- Đề nghị áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trường G từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh còn đề nghị xử lý vật chứng và các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng:
- [1.1] Các Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử áp dụng đối với bị cáo, được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có đương sự nào khiếu nại. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đều đã được thực hiện hợp pháp.
- [1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Huỳnh Văn L1, ông Nguyễn Văn D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, anh L1, ông D đều đã có lời khai thể hiện rõ nội dung trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- [2] Về xác định tội phạm và định tội đối với hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” của các bị cáo, thấy rằng: Tại phiên tòa, bị cáo T, bị cáo G xác định Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố các bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Hội đồng xét xử thấy rằng, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp các chứng cứ có trong hồ sơ như: bản tự khai, các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với các bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với nội dung Kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng Kỹ Thuật hình sự tỉnh L về việc xác định: “Hóa đơn giá trị gia tăng mua 01
8
điện thoại Iphone 14 Promax A, IMEIL: 352301451459487 với giá 41.990.000₫, ghi ngày 26/9/2023 có đóng hình dấu tròn hình dấu sao in “Công ty cổ phần T7 *S.Đ.K.Đ: 10300 Số 41.C.I.C.P* Quận A Thành phố Hồ Chí Minh”, là tài liệu giả, không phải tài liệu thật do Công ty cổ phần T7 phát hành. Cho thấy, bị cáo T, bị cáo G đã có hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Trọng T3 vào ngày 05/10/2023. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
- [3] Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo T, bị cáo G về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”: Hành vi vi phạm pháp luật của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, cụ thể là sử dụng Hóa đơn giá trị gia tăng giả, không do các Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành. Bản thân cả 02 bị cáo đều là người trưởng thành, nhận thức rõ pháp luật Việt Nam nghiêm cấm việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, nhưng vì mục đích lừa đảo người khác nhằm thu lợi bất chính, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện và phạm tội với tình tiết định khung là: “Sử dụng tài liệu giả để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng”, cụ thể là để lừa đảo người khác nhằm chiếm đoạt tài sản với số tiền thu lợi bất chính là 8.050.000đ. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần được xử lý bằng pháp luật Hình sự với mức án nghiêm khắc là điều cần thiết, phù hợp với công tác đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm về xâm phạm trật tự quản lý hành chính hiện nay. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ, toàn diện về vai trò của từng bị cáo, các yếu tố về tiền án, tiền sự, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Trong đó, bị cáo T giữ vai trò là người khởi xướng, rủ rê, cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, còn bị cáo G chỉ là đồng phạm với vai trò giúp sức, nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn bị cáo G.
- [4] Về xác định tội phạm và định tội đối với hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của các bị cáo, thấy rằng: Tại phiên tòa, bị cáo T, bị cáo G xác định Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Hội đồng xét xử thấy rằng, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp các chứng cứ có trong hồ sơ như: bản tự khai, các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với các bị cáo, phù hợp với lời khai của người bị hại. Bị cáo T đã trực tiếp dùng thủ đoạn gian dối là sử dụng tài liệu giả: “Hóa đơn giá trị gia tăng mua 01 điện thoại Iphone 14 Promax A, IMEIL: 352301451459487 với giá 41.990.000đ, ghi ngày 26/9/2023 có đóng hình dấu tròn hình dấu sao in “Công ty cổ phần T7 *S.Đ.K.Đ: 10300 Số 41.C.I.C.P* Quận A Thành phố Hồ Chí Minh”, không phải tài liệu thật do Công ty cổ phần T7 phát hành, để lừa đảo anh T3. Trong khi bị cáo G cùng đi với bị cáo T thực hiện hành vi lừa đảo, cung cấp số tài khoản để bị hại T3 chuyển tiền mua điện thoại giả. Bị cáo T, bị cáo G đã chiếm đoạt số tiền 10.000.000đ của bị hại T3, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 8.050.000đ. Cho
9
thấy, hành vi của bị cáo T, bị cáo G đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- [5] Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo T, bị cáo G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: Hành vi vi phạm pháp luật của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, được pháp luật bảo vệ. Bản thân các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ hành vi gian dối của mình nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần được xử lý bằng pháp luật Hình sự với mức án nghiêm khắc là điều cần thiết, phù hợp với công tác đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm về xâm phạm sở hữu hiện nay. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ, toàn diện về vai trò của từng bị cáo, các yếu tố về tiền án, tiền sự, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Trong đó, bị cáo T giữ vai trò là người khởi xướng, rủ rê, cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, còn bị cáo G chỉ là đồng phạm với vai trò giúp sức, nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn bị cáo G.
- [6] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:
- [6.1] Về tình tiết tăng nặng: Trong cả 02 tội, cả 02 bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
- [6.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và cũng đã tác động người thân bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo T, bị cáo G còn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nên còn hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Ngoài ra, bị cáo T, bị cáo G còn được phía bị hại T3 xin xem xét giảm nhẹ hình phạt về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên cả 02 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo G sau khi phạm tội bị cáo G đã ra đầu thú, bị cáo G có ông nội tên Trần Văn Đ là liệt sỹ, nên bị cáo G còn được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- [7] Về nhân thân: Bị cáo T đã bị kết án nhiều lần về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, dù đã được xóa án tích, nhưng được xem là có nhân thân không tốt. Bị cáo G chưa từng có tiền án, tiền sự, nên được xác định là có nhân thân tốt.
- [8] Về quyết định hình phạt đối với bị cáo T:
- [8.1] Đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng, không có tiền sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ theo
10
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng có nhân thân không tốt và còn giữ vai trò là người khởi xướng, rủ rê, cũng là người thực hành trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo T bằng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm phòng ngừa loại tội phạm nguy hiểm này trong xã hội.
- [8.2] Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng, không có tiền sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng có nhân thân không tốt và còn giữ vai trò là người khởi xướng, rủ rê, cũng là người thực hành trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo T bằng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm phòng ngừa loại tội phạm nguy hiểm này trong xã hội.
- [8.3] Do bị cáo T bị xét xử về 02 tội trong cùng 01 lần, nên cần áp dụng quy định Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
- [9.1] Đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, bị cáo G không có tình tiết tăng nặng, không có tiền sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, 02 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt và chỉ là đồng phạm với vai trò giúp sức cho bị cáo T. Do đó, chỉ cần xử phạt bị cáo G bằng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm phòng ngừa loại tội phạm nguy hiểm này trong xã hội.
- [9.2] Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo G không có tình tiết tăng nặng, không có tiền sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có 03 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt và chỉ là đồng phạm với vai trò giúp sức cho bị cáo T. Do đó, chỉ cần xử phạt bị cáo G bằng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm phòng ngừa loại tội phạm nguy hiểm này trong xã hội.
- [9.3] Do bị cáo G bị xét xử về 02 tội trong cùng 01 lần, nên áp dụng quy định Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
- [10.1] Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án tài liệu giả là: “Hóa đơn giá trị gia tăng mua 01 điện thoại Iphone 14 Promax A, IMEIL: 352301451459487 với
11
giá 41.990.000đ, ghi ngày 26/9/2023 có đóng hình dấu tròn hình dấu sao in “Công ty cổ phần T7 *S.Đ.K.Đ: 10300 Số 41.C.I.C.P* Quận A Thành phố Hồ Chí Minh”.
- [10.2] Đối với vật chứng là: 01 điện thoại di động màu tím, kiểu dáng giống Iphone 14 Promax, số sê ri: DNP2Z3QRN6YK, số IMEI 352301451459487, không gắn thẻ sim, mà các bị cáo sử dụng để lừa đảo. qua điều tra đã xác định đây là là điện thoại nhái nhãn hiệu, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- [10.3] Đối với vật chứng là: 01 xe mô tô, hiệu Wave Anpha, màu xanh, biển số 66N1-290.42, số máy JA39E0164999, số khung: 3900HY164965, thuộc sỡ hữu hợp pháp của bị cáo Ngô Tấn T. Bị cáo T sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
- [10.4] Đối với vật chứng là: 03 điện thoại di động kiểu giáng giống Iphone 15 Promax, số mô hình 3F888VN/A, màu xám, số sê ri: VHJG954N63, không gắn thẻ sim, thu giữ trên người bị cáo Ngô Tấn T vào ngày 07/11/2023. Qua điều tra, bị cáo T xác định 03 chiếc điện thoại này đều là hàng giả, nhái nhãn hiệu, bị cáo T mua về để sử dụng vào mục đích lừa đảo người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- [10.5] Riêng đối với với xe mô tô hiệu Vario, màu đen (không rõ biển số), bị cáo G sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 05/10/2023. Qua điều tra xác định, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, G sử dụng làm phương tiện đi Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê và đã bán xe mô tô trên cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) ở Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh không đề nghị xem xét, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [11] Đối với hành vi của cháu Ngô Tấn H1, sinh năm 2009 và hành vi của anh Huỳnh Văn L1, qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo T, bị cáo G, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh không đề nghị xem xét, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [12] Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bị cáo T, bị cáo G mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
12
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Tấn T, bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về áp dụng điều luật và hình phạt:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Tấn T 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Tấn T 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt bị cáo Ngô Tấn T bị xử phạt là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ tạm giam từ ngày 07/11/2023 đến ngày 02/02/2024.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 02 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt bị cáo Nguyễn Trường G bị xử phạt là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 27/3/2024.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Trường G trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án (08/8/2024) để bảo đảm thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án tài liệu giả là: “Hóa đơn giá trị gia tăng mua 01 điện thoại Iphone 14 Promax A, IMEIL: 352301451459487 với giá 41.990.000đ, ghi ngày 26/9/2023 có đóng hình dấu tròn hình dấu sao in “Công ty cổ phần T7 *S.Đ.K.Đ: 10300 Số 41.C.I.C.P* Quận A Thành phố Hồ Chí Minh”.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô, hiệu Wave Anpha, màu xanh, biển số 66N1-290.42, số máy JA39E0164999, số khung: 3900HY164965.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 điện thoại di động màu tím, kiểu dáng giống Iphone 14 Promax, số sê ri: DNP2Z3QRN6YK, số IMEI 352301451459487, không gắn thẻ sim; 03 điện thoại di động kiểu giáng giống Iphone 15 Promax, số mô hình 3F888VN/A, màu xám, số sê ri: VHJG954N63, không gắn thẻ sim.
13
- Các vật chứng nêu tại mục 3.2 và mục 3.3 đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh theo Quyết định chuyển vật chứng số 30/QĐ-VKSTT ngày 11/7/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Ngô Tấn T, bị cáo Nguyễn Trường G, mỗi người phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ sung Ngân sách Nhà nước.
- Về quyền và thời hạn kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Ngô Tấn T, bị cáo Nguyễn Trường G được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Nguyễn Trọng T3 được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm liên quan đến tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị cáo T, bị cáo G trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Tuấn T4 được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị cáo T, bị cáo G trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Văn L1, Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị cáo T, bị cáo G trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN về hình sự (về tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" và "lừa đảo chiếm đoạt tài sản")
- Số bản án: 40/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" và "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản")
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Thạnh, bị cáo Gian sử dụng tài liệu giả để lừa đảo
