|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST Ngày 08-7-2024 V/v “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Dinh;
2. Ông Nguyễn Kim Minh;
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 70/2024/TLST - HNGĐ ngày 01/4/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/6/2024 giữa:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H – Sinh năm 1983.
Đăng ký thường trú: Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi ở hiện nay: Tổ E, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
Bị đơn: Anh Vi Quang V – Sinh năm 1982
Đăng ký thường trú: Tổ E, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Đang chấp hành án tại trại giam Q1, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:
Chị và anh Vi Q V kết hôn với nhau ngày 30/7/2002 tại UBND phường P, thị xã L (N là phường L, thành phố L), tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thiếu sự tôn trọng nhau, thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, mệt mỏi, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, do anh Vi Quang V nghiện ma túy, mải chơi không chịu khó làm ăn. Năm 2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, năm 2021, anh V bị Tòa án nhân dân huyện Bát Xát xét xử 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và hiện nay anh đang chấp hành án với mức án 09 năm tù tại Trại giam Q1, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai. Mâu thuẫn vợ chồng mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không thành. Anh chị đã sống ly thân bắt đầu từ năm 2016, sau đó nhiều lần anh V đi chấp hành án nên anh chị cũng không sống cùng nhau, từ khi ly thân không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như về kinh tế. Nay chị Vũ Thị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Vi Quang V.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Vi A L - sinh ngày 01/10/2002 và cháu Vi Vân T – Sinh ngày 22/12/2006. Hiện nay, cháu Vi Vân T đang sinh sống cùng chị Vũ Thị H. Khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Vi Vân T đến khi đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh Vi Quang V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Vi A L đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Vũ Thị H hiện nay đang làm công nhân tại Công ty cổ phần môi trường đô thị tỉnh L với mức thu nhập trung bình là 8.345.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Vũ Thị H không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Vi Quang V: Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án đã thu thập tài liệu chứng cứ tại Công an phường L, thành phố L, xác định anh Vi Quang V có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ E, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Ngày 07/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai đã gửi công văn đến Trại giam Q1 và xác định anh Vi Q V hiện đang chấp hành án phạt tù tại đội 35, phân trại số 3 Trại giam Q1. Tại bản tự khai ngày 14/5/2024 anh Vi Quang V trình bày anh và chị Vũ Thị H có đăng ký kết hôn ngày 30/7/2002 tại UBND phường P (Nay là phường L), thành phố L. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án không quan tâm đến gia đình, đến nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị Vũ Thị H có đơn xin ly hôn thì anh nhất trí. Về con chung, anh chị có 02 người con chung là cháu Vi A L - sinh ngày 01/10/2002 và cháu Vi Vân T – Sinh ngày 22/12/2006; Cháu Vi A L đã đủ tuổi trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu Vi Vân T anh đề nghị Tòa án xem xét cho chị Vũ Thị H được chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, hiện anh đang chấp hành án nên không có điều kiện cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng mặt anh theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 điều 227, điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q2 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị H, xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Vi Quang V.
Về con chung: Giao cháu Vi Vân T – Sinh ngày 22/12/2006 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Vi Q V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo khoản 1 Điều 28; Khoản 1 điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Vũ Thị H và anh Vi Q V kết hôn ngày 30/7/2002 tại UBND phường P, thị xã L (N là phường L, thành phố L), tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, thiếu sự tôn trọng, thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, mệt mỏi, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, do anh Vi Quang V nghiện ma túy, mải chơi không chịu khó làm ăn. 03 lần bị Tòa án xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy” và hiện nay anh đang chấp hành án tại Trại giam Q1, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Mâu thuẫn vợ chồng mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không thành. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2016, sau đó nhiều lần anh V đi chấp hành án nên anh chị cũng không sống cùng nhau, không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như về kinh tế. Xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H là phù hợp.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Vi A L - sinh ngày 01/10/2002 và cháu Vi Vân T – Sinh ngày 22/12/2006. Cháu Vi A L đã đủ tuổi trưởng thành nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết còn cháu Vi Vân T hiện nay đang sinh sống cùng chị Vũ Thị H. Chị Vũ Thị H đang làm công nhân tại Công ty cổ phần môi trường đô thị tỉnh L với mức thu nhập trung bình là 8.345.000 đồng/tháng. Anh Vi Quang V hiện đang chấp hành án tại Trại giam Q1 nên không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi cháu Vi Vân T. Xét thấy chị Vũ Thị H có đủ điều kiện để nuôi con chung. Do vậy, giao cháu Vi Vân T cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Vi Quang V không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn theo khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Vi Quang V, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cháu Vi Vân T – Sinh ngày 22/12/2006 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Vi Q V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Vi Quang V được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
- Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000525 ngày 01/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai. Chị Vũ Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VŨ THỊ H - VI QUANG V
