Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 08-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mi Mi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thị Mộng Trinh

2. Ông Đặng Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng V – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. LÊ ĐÌNH QUỐC (Tên gọi khác: Sáu Q) - Sinh năm 1976 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú và chỗ ở: Thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình N (chết) và bà Bùi Thị M; Vợ: K Thị P, Có 03 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biên pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.
  2. HUỲNH THẾ HOÀNG (Tên gọi khác: H) - Sinh năm 1982 tại Đồng Tháp; Nơi cư trú và chỗ ở: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Thế H1 và bà Nguyễn Thị C; Vợ: Trần Thị L (chưa đăng ký kết hôn) Con 01 sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.

* Bị hại:

  1. Ông Lê Văn Đ – Sinh năm 1987 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  2. Ông Nguyễn Thế H2 – Sinh năm 1980 (vắng mặt);
  3. Cùng địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  4. Bà Phạm Thị Nguyệt Á – Sinh năm 1982 (vắng mặt);
  5. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  6. Ông Trần Đăng C1 – Sinh năm 1995 (vắng mặt);
  7. Địa chỉ: Bản C, xã L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

  8. Bà B' Đam Thị N1 – Sinh năm 1989 (vắng mặt);
  9. Bà Trần Thị Hồng V1 – Sinh năm 1979 (vắng mặt);
  10. Bà Lê Thị Hồng P1 – Sinh năm 1964 (vắng mặt);
  11. Ông Phạm Văn H3 – Sinh năm 1976 (vắng mặt);
  12. Ông Trần Duy L1 – Sinh năm 1985 (vắng mặt);
  13. Bà Lê Thị Í – Sinh năm 1994 (vắng mặt);
  14. Ông Phạm Văn T – Sinh năm 1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt);.
  15. Cùng địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Văn D – sinh năm 1960 (vắng mặt);;

Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến 8/2023, Lê Đình Q1 đã nhiều lần trộm cắp mô tơ của người khác trên địa bàn thôn C, xã L, huyện H bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 20 giờ (không xác định được ngày) trong tháng 3/2023, Q1 mang theo kìm sắt, đeo ủng rồi đi bộ đến rẫy của anh Trần Đăng C1 ở cùng thôn thấy chiếc mô tơ (không rõ nhãn hiệu), loại máy hai chiều, màu đen, công suất 03 HP (mã lực) để ở gần chòi. Q1 lén lút dùng kìm cắt dây điện mô tơ rồi lấy mô tơ đem về cất giấu trong bụi cây phía sau nhà Q1. Khoảng 03 ngày sau, Q1 gọi điện cho Huỳnh Thế H4 (tên gọi khác là H), trú tại thôn A, xã Đ, huyện H (là người thu mua phế liệu) đến và bán chiếc mô tơ trên cho H4 với số tiền 150.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 20/5/2023, Q1 mang theo kìm sắt, đeo ủng rồi đi bộ đến khu vực ao của ông Phạm Văn T, ở cùng thôn. Tại đây, Q1 thấy có 01 mô tơ loại Daphovina, công suất 02 HP, số máy 2208693 để ở dưới ao. Lúc này, Q1 cầm dây dù kéo mô tơ từ dưới ao lên bờ, dùng kìm cắt dây điện rồi gỡ mô tơ ra đem về cất giấu trong bụi cây phía sau nhà. Khoảng 04 ngày sau, Q1 thấy H4 đi ngang qua nên đã gọi H4 vào bán mô tơ trên với giá 350.000 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng 21 giờ (không xác định được ngày) trong tháng 7/2023, Q1 mang theo kìm sắt, đeo ủng rồi đi bộ vào rẫy của bà Phạm Thị Nguyệt Á, ở cùng thôn. Tại đây, Q1 thấy 01 bộ máy phun thuốc trừ sâu, loại máy xăng, màu xanh, trọng lượng khoảng 18 kg. Quan sát thấy xung quanh không có người, Q1 lén lút vác bộ máy phun thuốc trừ sâu đi về nhà. Sau đó, Q1 đem cất giấu trong bụi cây phía sau nhà. Khoảng 04 ngày sau, Quốc bán bộ máy phun thuốc trừ sâu cho H4 với giá 250.000 đồng.

Lần thứ tư: Khoảng 20 giờ ngày 20/7/2023, Q1 chuẩn bị 01 kìm sắt, mang ủng rồi đi bộ đến khu vực đất rẫy của anh Lê Văn Đ, ở cùng thôn. Tại đây, Q1 thấy 01 mô tơ hiệu Galaxy, màu trắng I, công suất 1,5 HP đang thả chìm dưới ao. Lúc này, Q1 cầm dây dù kéo mô tơ lên, dùng kìm cắt dây điện rồi gỡ mô tơ đem về phía sau nhà, cất giấu trong bụi cây. Khoảng 04 ngày sau, Q1 gọi điện cho H4 đến bán mô tơ này với giá 350.000 đồng.

Lần thứ năm: Khoảng 23 giờ ngày 02/8/2023, Q1 chuẩn bị 01 kìm sắt, mang ủng rồi đi bộ đến khu đất rẫy của chị B' Đam Thị N1, ở cùng thôn. Tại đây, Q1 thấy có 01 mô tơ hiệu Ledo pump, màu trắng, công suất 02 HP đang để ở gần suối. Quan sát xung quanh không có người, Q1 dùng kìm cắt đứt dây điện rồi đem mô tơ cất giấu tại một bụi cây cách vị trí vừa lấy trộm khoảng 100 mét.

Lần thứ sáu: Sau khi trộm mô tơ của gia đình chị B' Đam Thị N1, Q1 tiếp tục đi đến khu đất phía sau nhà bà Lê Thị Hồng P1, ở cùng thôn tìm mô tơ để trộm cắp. Tại khu vực bờ suối phía sau nhà bà P1, Q1 phát hiện 01 mô tơ, nhãn hiệu Supper win, màu xám trắng, công suất 03 HP nên Q1 đã lén lút dùng kìm cắt đứt dây điện, chiếm đoạt mô tơ rồi quay lại bụi cây đem cả 2 mô tơ vừa trộm được về cất giấu tại bụi cây phía sau nhà mình.

Lần thứ bảy: Khoảng 20 giờ ngày 03/8/2023, Q1 tiếp tục đem theo kìm, mang ủng rồi đi bộ đến khu đất của bà Trần Thị Hồng V1, ở cùng thôn để trộm cắp mô tơ. Tại đây, Q1 thấy có 01 mô tơ không rõ nhãn hiệu, loại hỏa tiễn, màu trắng, công suất 01 HP để ở giếng nên Q1 đã dùng kìm cắt đứt dây điện rồi đem mô tơ về giấu tại bụi cây phía sau nhà mình. Khoảng 04 ngày sau, Q1 gọi điện cho H4 đến và bán mô tơ của bà N1 với giá 350.000 đồng, bán mô tơ của bà P1 với giá 400.000 đồng và bán mô tơ của bà V1 với giá 150.000 đồng.

Lần thứ tám: Khoảng 21 giờ ngày 12/8/2023, Q1 tiếp tục đem theo kìm, mang ủng rồi quay lại nhà bà Lê Thị Hồng P1, ở cùng thôn. Tại đây, Q1 thấy 01 mô tơ không rõ nhãn hiệu, loại hỏa tiễn, màu trắng, công suất 01 HP để ở giếng nước. Lúc này, Q1 dùng kìm cắt đứt dây điện rồi đem mô tơ về cất giấu tại bụi cây phía sau nhà. Khoảng 03 ngày sau, Q1 gọi điện cho H4 đến, bán mô tơ này với giá 200.000 đồng.

Lần thứ chín: Khoảng 21 giờ ngày 14/8/2023, Q1 đi đến nhà ông Phạm Văn H3, ở cùng thôn để tìm mô tơ lấy trộm. Khi đi đến khu vực giếng nước bên hông phải của nhà ông H3, Q1 thấy có 01 mô tơ nhãn hiệu Daphovina, loại hỏa tiễn, màu trắng đã bị rỉ sét, công suất 01 HP. Sau đó, Q1 lén lút dùng kìm cắt đứt dây điện rồi đem mô tơ về cất giấu ở bụi cây phía sau nhà mình. Khoảng 03 ngày sau, Q1 gọi điện cho H4 đến, bán mô tơ này với giá 200.000 đồng.

Lần thứ mười: Khoảng 21 giờ ngày 18/8/2023, Q1 chuẩn bị kìm sắt, mang ủng rồi đi bộ đến nhà ông Nguyễn Thế H2, ở cùng thôn. Tại đây, Q1 thấy có 01 mô tơ không rõ nhãn hiệu, loại hỏa tiễn, màu trắng, công suất 01 HP đang đặt tại giếng nước bên hông nhà ông H2. Quan sát thấy không có người xung quanh, Q1 cầm dây dù kéo mô tơ lên rồi dùng kìm cắt đứt dây điện, sau đó đem mô tơ về cất giấu tại bụi cây phía sau nhà.

Lần thứ mười một: Khoảng 20 giờ ngày 19/8/2023, Q1 tiếp tục đem theo kìm sắt, mang ủng rồi đi bộ đến nhà ông Trần Duy L1, ở cùng thôn. Tại khu vực giếng nước ở phía sau nhà ông L1, Q1 cầm dây dù kéo lên 01 một tơ nhãn hiệu MT, màu trắng, công suất 1,5 HP rồi dùng kìm cắt đứt dây điện và đem mô tơ về cất giấu tại bụi cây phía sau nhà.

Lần thứ mười hai: Sau khi trộm cắp mô tơ của gia đình ông Trần Duy L1, khoảng 21 giờ cùng ngày, Q1 tiếp tục đi bộ đến nhà chị Lê Thị Í, ở cùng thôn để tìm kiếm mô tơ lấy trộm. Khi đến khu vực giếng nước phía sau nhà chị Í, Q1 thấy 01 mô tơ, không rõ nhãn hiệu, loại hỏa tiễn, màu trắng, công suất 01 HP. Lúc này, Q1 cầm dây dù kéo mô tơ lên rồi dùng kìm cắt đứt dây điện, sau đó Q1 đem về cất giấu tại bụi cây phía sau nhà Q1. Đến sáng 20/8/2023, Q1 gọi điện thoại cho H4 đến bán cái mô tơ của ông L1 với giá 150.000 đồng, bán cái mô tơ bà của chị Í với giá 150.000 đồng và bán cái mô tơ của ông H2 với giá 150.000 đồng.

Khi bán các mô tơ cho Huỳnh Thế H4, mặc dù Lê Đình Q1 không nói cho H4 biết mô tơ do trộm cắp mà có. Tuy nhiên, H4 thừa nhận khi mua mô tơ của Q1 đến cái thứ tư thì H4 có nghi ngờ mô tơ do Q1 trộm cắp mà có vì H4 biết Q1 không thể có nhiều mô tơ như vậy để bán, đồng thời các mô tơ do Q1 bán đều có các vết cắt dây điện nham nhở, tất cả đều còn giá trị sử dụng, vì làm ăn, lỡ đã mua mô tơ của Q1 nên không thể dừng lại được, từ đó H4 tiếp tục mua các mô tơ tiếp theo của Q1 cho đến khi bị phát hiện.

Sau khi Huỳnh Thế H4 mua các mô tơ của Lê Đình Q1 thì H4 đã bán lại cho ông Lê Văn D, ở thôn C, xã L gồm: 01 mô tơ loại hỏa tiễn, màu trắng inox, khối trụ, chiều dài 32cm, có tay xách, nhãn hiệu Daphovina bằng sắt, công suất 02 HP (của Phạm Văn T) với giá 500.000 đồng; 01 mô tơ loại hỏa tiễn, màu trắng inox, khối trụ, đế bằng sắt bị rỉ sét, chiều dài từ đế chân đến đầu là 38cm, nhãn hiệu Galaxy, công suất 1.5 HP (của ông Lê Văn Đ) với giá 500.000 đồng; 01 mô tơ nhãn hiệu Super Win, công suất 03 HP, màu trắng inox, chiều dài 40cm (của bà Lê Thị Hồng P1) với giá 1.000.000 đồng. Mục đích của ông D khi mua các mô tơ của H4 về là để sử dụng trong gia đình, không biết tài sản do H4Q1 phạm tội mà có. Đồng thời, ông Lê Văn D còn mua giúp cho Phạm Văn H3 01 mô tơ loại hỏa tiễn, màu trắng inox, khối trụ chiều dài 37cm, nhãn hiệu Daphovina, công suất 01 HP (của chính ông Phạm Văn H3) với giá 600.000 đồng.

Riêng 01 mô tơ, không rõ nhãn hiệu, loại máy hai chiều, màu đen, công suất 03 HP (của Trần Đăng C1); 01 mô tơ hiệu Ledo pump, màu trắng, công suất 02 HP (của B' Đam Thị N1); 01 mô tơ không rõ nhãn hiệu, loại hỏa tiễn, màu trắng, công suất 01 HP (của Lê Thị Hồng P1); 01 mô tơ không rõ nhãn hiệu, loại hỏa tiễn, màu trắng, công suất 01 HP (của Nguyễn Thế H2); 01 mô tơ không rõ nhãn hiệu, loại hỏa tiễn, màu trắng, công suất 01 HP (của Trần Thị Hồng V1) và 01 cái máy xăng phun thuốc trừ sâu (của bà Phạm Thị Nguyệt Á) thì H4 đã rã ra bán cho vựa phế liệu ở khu công nghiệp T nhưng không rõ chủ vựa và địa chỉ cụ thể. Huỳnh Thế H4 giao nộp cho Công an xã L 01 cái mô tơ loại hoả tiễn, khối trụ, đã bị rỉ sét phần đầu và phần chân, không rõ nhãn hiệu, chiều dài 35cm, công suất 01 HP (của ông Trần Duy L1) và 01 cái mô tơ loại hỏa tiễn, khối trụ, đã bị rỉ sét phần đầu và phần chân, không rõ nhãn hiệu, chiều dài 37cm, công suất 01 HP (của chị Lê Thị Í).

Sau khi phát hiện bị mất mô tơ các bị hại đều đến Công an xã L trình báo sự việc, Công an xã L đã xác minh, mời Lê Đình Q1Huỳnh Thế H4 về trụ sở làm việc, cả hai đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS ngày 25/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận:

  • + 01 mô tơ, loại 2 chiều, không rõ nhãn hiệu, màu đen, công suất 3HP, mua vào năm 2018, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá tháng 3/2023 là 2.066.500 đồng.
  • + 01 mô tơ, nhãn hiệu Daphovina, loại hỏa tiễn, công suất 2HP, mua tháng 11/2022, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá tháng 5/2023 là 2.099.700 đồng.
  • + 01 bộ máy phun thuốc trừ sâu, loại máy xăng, dạng nằm, nhãn hiệu không rõ, màu xanh, trọng lượng khoảng 18kg, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá tháng 7/2023 là 1.766.500 đồng.
  • + 01 mô tơ, nhãn hiệu GALAXY, loại hỏa tiễn, vỏ bên ngoài bọc inox màu trắng, công suất 1.5HP, mua máy đã qua sử dụng của người khác vào tháng 8/2022. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 20/7/2023 là 1.616.500 đồng.
  • + 01 mô tơ, nhãn hiệu Tân Hoàng C2 (L), màu trắng, dạng nằm, công suất 2HP, mua năm 2018, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 02/8/2023 là 1.850.000 đồng.
  • + 01 mô tơ, nhãn hiệu Super Win, màu trắng, dạng nằm, công suất 3HP, mua tháng 11/2022, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 02/8/2023 là 3.719.700 đồng.
  • + 01 mô tơ, không rõ nhãn hiệu, màu trắng, loại hỏa tiễn, công suất 1HP, mua vào năm 2021, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 03/8/2023 là 1.400.000 đồng.
  • + 01 mô tơ, không rõ nhãn hiệu, màu trắng, loại hỏa tiễn, công suất 1HP, mua vào khoảng năm 2018, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 12/8/2023 là 1.000.000 đồng.
  • + 01 mô tơ, nhãn hiệu Daphovina, màu trắng, loại hỏa tiễn, công suất 1HP, mua vào năm 2018, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 14/8/2023 là 1.000.000 đồng.
  • + 01 mô tơ, không rõ nhãn hiệu, màu trắng, loại hỏa tiễn, công suất 1HP, mua vào năm 2021, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 18/8/2023 là 1.400.000 đồng.
  • + 01 mô tơ, không rõ nhãn hiệu, màu trắng, loại hỏa tiễn, công suất 1.5HP, mua vào năm 2022, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 19/8/2023 là 2.129.400 đồng.
  • + 01 mô tơ, không rõ nhãn hiệu, màu trắng, loại hỏa tiễn, công suất 1HP, mua vào năm 2018, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 19/8/2023 là 1.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là: 21.048.300 đồng.

Xử lý vật chứng:

  • + 01 mô tơ loại hỏa tiễn, màu trắng inox, khối trụ, chiều dài 32cm, có tay xách, nhãn hiệu Daphovina bằng sắt, công suất 02 HP, đã trả cho ông Phạm Văn T.
  • + 01 mô tơ loại hỏa tiễn, màu trắng inox, khối trụ, đế bằng sắt bị rỉ sét, chiều dài từ đế chân đến đầu là 38cm, nhãn hiệu Galaxy, công suất 1.5 HP, đã trả cho ông Lê Văn Đ.
  • + 01 mô tơ nhãn hiệu Super Win, công suất 03 HP, màu trắng inox, chiều dài 40cm, đã trả cho bà Lê Thị Hồng P1
  • + 01 mô tơ loại hỏa tiễn, màu trắng inox, khối trụ chiều dài 37cm, nhãn hiệu Daphovina, công suất 01 HP, đã trả cho ông Phạm Văn H3
  • + 01 mô tơ loại hoả tiễn, khối trụ, đã bị rỉ sét phần đầu và phần chân, không rõ nhãn hiệu, chiều dài 35cm, công suất 01 HP, đã trả cho ông Trần Duy L1.
  • + 01 mô tơ loại hỏa tiễn, khối trụ, đã bị rỉ sét phần đầu và phần chân, không rõ nhãn hiệu, chiều dài 37cm, công suất 01 HP, đã trả cho chị Lê Thị Í.
  • + 01 mô tơ màu đen rỉ sắt, không rõ nhãn hiệu và công suất đã trả cho ông Lê Văn D.
  • - 01 cây kìm bằng sắt, tay cầm bọc nhựa màu đỏ đen và 01 đôi ủng màu nâu. Đây là vật chứng của vụ án nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc sẽ chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc để bảo quản, chờ xử lý.

Về dân sự:

  • + Ông Trần Đăng C1 yêu cầu Lê Đình Q1 bồi thường mô tơ đã mất với số tiền 3.500.000 đồng.
  • + Chị B' Đam Thị N1 yêu cầu Lê Đình Q1 bồi thường mô tơ đã mất với số tiền 2.000.000 đồng.
  • + Bà Lê Thị Hồng P1 yêu cầu Lê Đình Q1 bồi thường mô tơ đã mất với số tiền 1.500.000 đồng.
  • + Ông Nguyễn Thế H2 yêu cầu Lê Đình Q1 bồi thường mô tơ đã mất với số tiền 1.000.000 đồng.
  • + Bà Trần Thị Hồng V1 yêu cầu Lê Đình Q1 bồi thường mô tơ đã mất với số tiền 1.000.000 đồng.
  • + Ông Phạm Văn H3 yêu cầu bồi thường thêm số tiền 600.000 đồng (tiền ông H3 mua lại mô tơ từ Huỳnh Thế H4).

Lê Đình Q1 đã tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của các bị hại gồm: Trần Đăng C1, B' Đam Thị N1, Lê Thị Hồng P1, Nguyễn Thế H2, Trần Thị Hồng V1Phạm Văn H3. Sau khi nhận đủ tiền bồi thường, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSHTB ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Bị cáo Lê Đình Q1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Huỳnh Thế H4 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Lê Đình Q1, Huỳnh Thế H4 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: - Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Phạt Lê Đình Q1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù;

- Khoản 1 Điều 323; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Phạt Huỳnh Thế H4 từ 06 tháng đến 09 tháng tù;

Áp dụng: Điểm b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kìm bằng sắt, tay cầm bọc nhựa màu đỏ đen và 01 đôi ủng màu nâu là vật chứng của vụ án.

Buộc Huỳnh Thế H4 nộp lại số tiền 4.050.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán tài sản do người khác phạm tội mà có sung quỹ nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, biên bản ghi nhận sự việc cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến ngày 19/8/2023, Lê Đình Q1 đã thực hiện 12 vụ trộm cắp mô tơ của các hộ dân trên địa bàn thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bình Thuận rồi đem bán cho Huỳnh Thế H4. Tổng giá trị tài sản mà Lê Đình Q1 chiếm đoạt là 21.048.300 đồng, số tiền thu lợi bất chính của Lê Đình Q1 là 2.850.000 đồng. Huỳnh Thế H4 là người mua mô tơ từ Lê Đình Q1. Khi mua tài sản của Q1 bán đến cái mô tơ thứ tư H4 nhận thức được mô tơ do Q1 trộm cắp mà có, H4 biết Q1 không thể có nhiều mô tơ như vậy để bán, các mô tơ do Q1 bán đều có các vết cắt dây điện nham nhở, tất cả đều còn giá trị sử dụng nhưng H4 vẫn bỏ mặc hậu quả, tiếp tục mua 08 mô tơ còn lại nên buộc H4 phải chịu trách nhiệm đối với 11 mô tơ và 01 máy phun thuốc trừ sâu mua từ Q1, H4 biết số mô tơ trên là tài sản do trộm cắp có. Tuy nhiên, H4 vẫn mua 11 mô tơ các loại và 01 máy phun thuốc trừ sâu rồi bán lại cho ông Lê Văn D 04 mô tơ với số tiền thu lợi bất chính là 2.600.000 đồng; 05 mô tơ còn lại và 01 cái máy phun thuốc trừ sâu Hoàng rã ra và bán phế liệu với tổng số tiền 1.450.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 4.050.000 đồng. Riêng đối với 02 mô tơ còn lại chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện thu giữ. Hành vi của Lê Đình Q1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Huỳnh Thế H4 biết tài sản do Lê Đình Q1 trộm mà có, nhưng vẫn giúp sức cho Q1 tiêu thụ hết các mô tơ. Hành vi mua bán, tiêu thụ tài sản biết rõ do phạm tội mà có của Huỳnh Thế H4 là đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Lê Đình Q1, Huỳnh Thế H4 phạm tội nhiều lần mà mỗi lần đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm là “phạm tội 02 lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  4. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa các bị cáo Q1, H4 khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Q1 đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
  5. Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Xuất phát từ bản chất tham lam, lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu sài nên lợi dụng sơ hở của người khác trong việc quản lý tài sản đã lén lút chiếm đoạt các mô tơ đem bán, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất liều lĩnh nên cần phải xử lý nghiêm khắc. Đối với bị cáo Huỳnh Thế H4 tuy không hứa hẹn trước nhưng khi biết Q1 đã trộm cắp nhiều mô tơ của người khác, biết là tài sản không hợp pháp nhưng cũng giúp sức tạo điều kiện tiêu thụ tất cả các mô tơ trộm được bán lại cho người khác hưởng số tiền chênh lệch. Hành vi của các bị cáo thể hiện việc xem thường pháp luật, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác, gây bất bình và ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa phương. Do đó, cần thiết phải lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.
  6. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173, Điều 323 Bộ luật hình sự do các bị cáo không nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
  7. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kìm bằng sắt, tay cầm bọc nhựa màu đỏ đen và 01 đôi ủng màu nâu là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/4/2024. Buộc Huỳnh Thế H4 giao nộp lại số tiền 4.050.000đồng thu lợi bất chính của Huỳnh Thế H4 để sung quỹ nhà nước.
  8. Về các vấn đề khác: Đối với Lê Văn D là người mua lại 04 mô tơ từ Huỳnh Thế H4 nhưng khi bán mô tơ thì H4 nói là hàng phế liệu, D không biết số mô tơ H4 bán cho mình là tài sản do trộm cắp có được nên không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Lê Đình Q1 (tên gọi khác: Sáu Q) và Huỳnh Thế H4 (tên gọi khác: H) phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (Lê Đình Q1).

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 323, Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (Huỳnh Thế H4).

Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đình Q1 (tên gọi khác: Sáu Q) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Huỳnh Thế H4 (tên gọi khác: H) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt:

  • - Lê Đình Q1 (tên gọi khác: Sáu Q) 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
  • - Huỳnh Thế H4 (Tên gọi khác: H) 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo Q, Hoàng

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kìm bằng sắt, tay cầm bọc nhựa màu đỏ đen và 01 đôi ủng màu nâu, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/01/2024

Buộc Huỳnh Thế H4 nộp lại số tiền 4.050.000đồng thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước.

Về án phí:

Các bị cáo Lê Đình Q1 (tên gọi khác: S), Huỳnh Thế H4 (tên gọi khác: H) mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/5/2024). Riêng các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • -Sở tư pháp;
  • -VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mi Mi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger