Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thanh Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Đẹp.

Ông Nguyễn Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn H; Tên gọi khác: Cường Khỉ; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1970; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi ĐKHKTT: số E, Khóm A, Phường A, thành phố S, Đồng Tháp; Chỗ ở: Không ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Cha: Trần Văn P, sinh năm 1935 (chết); Mẹ: Trần Thị H1, sinh năm 1940 (chết); A, chị, em: 05 người, lớn nhất sinh năm 1961, nhỏ nhất sinh năm 1972; Vợ: Phùng Thị Trúc M, sinh năm 1973 (Chưa đăng ký kết hôn); Con: Chưa có.

Tiền sự: Không có.

Tiền án: Có 01 tiền án.

Bản án số 68/2007/HSST ngày 19/10/2007 Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 09/12/2016. Đến nay chưa nộp 10.000.000 đồng tiền phạt sung quỹ Nhà nước. Chưa được xóa án tích.

Nhân thân:

Ngày 20/4/1989 Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.

Ngày 18/4/1991 Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.

Ngày 14/7/1992 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản công dân và 01 năm 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”.

Ngày 11/6/1994 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản công dân và 03 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”.

Tạm giữ: Ngày 05/01/2024; Tạm giam: Ngày 14/01/2024.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

Nguyễn Ngọc T - sinh năm: 1971 (có mặt)

Nơi cư trú: Số A, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 05/01/2024, Trần Văn H chuẩn bị công cụ như: kiềm cộng lực, mỏ lết, khóa lục giác, cờ lê bằng, bao tay ... rồi điều khiển xe mô tô không có gắn biển số xe, phía sau có kéo theo một xe tự chế bằng kim loại chạy đi từ thành phố L, tỉnh An Giang đến thành phố S để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày 05/01/2024, khi chạy ngang quán cơm “Thanh Vân” ngụ đường N, thuộc Khóm E, Phường A, thành phố S do bà Nguyễn Ngọc T làm chủ, H nhìn thấy quán đóng cửa nhưng không khóa, không người trông giữ nên H dừng xe lại quan sát thấy bên trong quán có để nhiều bàn, ghế bằng inox được khóa lại bằng một sợi dây xích.

H đi vào trong rồi dùng kiềm cộng lực cắt đứt dây xích lấy tổng cộng 15 chiếc ghế bằng kim loại màu trắng và 04 chiếc bàn bằng kim loại màu trắng mang ra để lên xe kéo. Sau đó, H điều khiển xe chạy về thành phố L, tỉnh An Giang. Khi đến đoạn đường V, thuộc ấp T, xã T, thành phố S thì bị lực lượng Công an thành phố S đang đi tuần tra phát hiện yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, H khai nhận toàn bộ hành vi lấy trộm số bàn, ghế của bà T nên tổ tuần tra tiến hành lập biên bản sự việc và bàn giao cho Công an phường A, thành phố S, tiến hành thu giữ của H gồm:

  • 01 xe mô tô hai bánh, màu xanh, không có biển số, trên thân xe có chữ “Victory”, trên lốc máy có in chữ “LONCIN”; số máy: LC152FMH *01037443*, số khung: YX110*200100196*.
  • 01 xe kéo tự chế bằng kim loại, màu đen, chiều dài tổng: 2,43m; chiều dài thùng chứa hàng: 1,5m; chiều rộng: 1m; cao: 0,86m.
  • 15 chiếc ghế bằng kim loại màu trắng, loại có tựa lưng, mỗi chiếc ghế có chiều cao 80cm, chiều ngang 30cm.
  • 04 chiếc bàn bằng kim loại màu trắng, loại có chân xếp, mặt bàn hình chữ nhật; mỗi chiếc bàn có chiều dài 100cm, chiều ngang 60cm, chiều cao 55cm.
  • 01 kiềm cộng lực bằng kim loại, tay cầm sơn màu đỏ, dài 47cm.
  • 01 kiềm bằng kim loại, tay cầm có ốp nhựa màu xanh, trên thanh nối giữa 02 lưỡi kiềm có khắc chữ “KBS JAPAN”, có tổng chiều dài 22cm.
  • 01 cây kẹp bằng kim loại, màu trắng, dài 30cm.
  • 05 cây khóa bằng kim loại, một đầu có lổ tròn, một đầu có khe hở, gồm các kích thước 13mm, 19mm, 21mm, 22mm, 24mm.
  • 01 mỏ lết bằng kim loại, dài 20cm.
  • 01 khóa lục giác bằng kim loại, đường kính 8mm, dài 17cm.
  • 01 cờ lê bằng kim loại, có tay cầm ốp nhựa màu đen, dài 19cm.
  • 01 dao bằng kim loại, có tay cầm quấn băng keo màu xanh lá, tổng chiều dài 33cm.
  • 02 bao tay cụt ngón màu đen, có in dòng chữ BOSS màu đỏ.
  • 01 đèn pin, vỏ bằng nhựa màu nâu, có in dòng chữ CHEN GUANG màu trắng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 11/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S, kết luận:

  • 15 chiếc ghế bằng kim loại màu trắng, loại có tựa lưng, mỗi chiếc ghế có chiều cao 80cm, chiều ngang 30cm, có trị giá 1.200.000 đồng.
  • 04 chiếc bàn bằng kim loại màu trắng, loại có chân xếp, mặt bàn hình chữ nhật, mỗi chiếc bàn có chiều dài 100cm, chiều ngang 60cm, cao 55cm, có trị giá 1.226.667 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá là: 2.426.667 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho bà Nguyễn Ngọc T 15 chiếc ghế, 04 chiếc bàn mà H đã chiếm đoạt. Bà T nhận lại đủ tài sản và không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKSTPSĐ ngày 26/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 01 năm đến 02 năm tù.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự;

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước các công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội gồm: 01 xe mô tô, 01 xe kéo tự chế bằng kim loại, 01 kiềm cộng lực bằng kim loại, 01 kiềm bằng kim loại, 01 cây kẹp bằng kim loại, 05 cây khóa bằng kim loại, 01 mỏ lết bằng kim loại, 01 khóa lục giác bằng kim loại, 01 cờ lê bằng kim loại, 01 dao bằng kim loại, 02 bao tay, 01 đèn pin.

Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng 03 giờ ngày 05/01/2024, tại quán cơm “T", đường N, thuộc khóm E, phường A, thành phố S, bị cáo Trần Văn H đã có hành vi lén lút, lấy trộm 15 chiếc ghế và 04 chiếc bàn bằng kim loại màu trắng, với tổng trị giá tài sản là 2.426.667 đồng của bà Nguyễn Ngọc T. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, vì mục đích vụ lợi và là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo H đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...”

Hội đồng xét xử nhận thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Trần Văn H là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

  1. [3] Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương.

Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích và đã chấp hành hình phạt của nhiều bản án hình sự về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Trốn khỏi nơi giam”. Nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt, trở về cộng đồng; bị cáo không biết sửa chữa, tiếp tục phạm tội. Cho thấy bị cáo thiếu sự rèn luyện và tu dưỡng; thiếu ý thức chấp hành pháp luật, không có sự tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác.

  1. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn H có 01 tiền án, chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

  1. [5] Từ những phân tích trên, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo; cùng phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, nhằm cách ly bị cáo Trần Văn H ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo tiếp tục được giáo dục, học tập và rèn luyện; nhằm từ bỏ hành vi vi phạm pháp luật, trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.
  2. [6] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  3. [7] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô, 01 xe kéo tự chế bằng kim loại, 01 kiềm cộng lực bằng kim loại, 01 kiềm bằng kim loại, 01 cây kẹp bằng kim loại, 05 cây khóa bằng kim loại, 01 mỏ lết bằng kim loại, 01 khóa lục giác bằng kim loại, 01 cờ lê bằng kim loại, 01 dao bằng kim loại, 02 bao tay, 01 đèn pin; là những công cụ, phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước theo quy định.
  4. [8] Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước gồm:

    • 01 xe mô tô hai bánh, màu xanh, không có biển số, trên thân xe có chữ “Victory”, trên lốc máy có in chữ “LONCIN”; số máy: LC152FMH *01037443*, số khung: YX110*200100196*.
    • 01 xe kéo tự chế bằng kim loại, màu đen, chiều dài tổng: 2,43m; chiều dài thùng chứa hàng: 1,5m; chiều rộng: 1m; cao: 0,86m.
    • 01 kiềm cộng lực bằng kim loại, tay cầm sơn màu đỏ, dài 47cm.
    • 01 kiềm bằng kim loại, tay cầm có ốp nhựa màu xanh, trên thanh nối giữa 02 lưỡi kiềm có khắc chữ “KBS JAPAN”, có tổng chiều dài 22cm.
    • 01 cây kẹp bằng kim loại, màu trắng, dài 30cm.
    • 05 cây khóa bằng kim loại, một đầu có lổ tròn, một đầu có khe hở, gồm các kích thước 13mm, 19mm, 21mm, 22mm, 24mm.
    • 01 mỏ lết bằng kim loại, dài 20cm.
    • 01 khóa lục giác bằng kim loại, đường kính 8mm, dài 17cm.
    • 01 cờ lê bằng kim loại, có tay cầm ốp nhựa màu đen, dài 19cm.
    • 01 dao bằng kim loại, có tay cầm quấn băng keo màu xanh lá, tổng chiều dài 33cm.
    • 02 bao tay cụt ngón màu đen, có in dòng chữ BOSS màu đỏ.
    • 01 đèn pin, vỏ bằng nhựa màu nâu, có in dòng chữ CHEN GUANG màu trắng.

    (Hiện các công cụ trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Trần Văn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hô nay, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh ĐT;
  • - VKSND TP Sa Đéc;
  • - Cơ quan THAHS TP Sa Đéc;
  • - Cơ quan CSĐT TP Sa Đéc;
  • - Chi cục THADS TP Sa Đéc;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu Hồ sơ, VT, TP.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lê Thanh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/TLST-HS ngày 07/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 36/2024/TLST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger