|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07-6-2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Duyên;
Bà Trần Thị Sang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu, là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh: Ông Nguyễn Văn Trường, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 194/2023/TLST- HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024; giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Ngọc M, sinh năm 1983 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Lê Trọng H, sinh năm 1982 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị Ngọc M trình bày:
Chị và anh Lê Trọng H do quen biết, tìm hiểu nhau thì tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ hạnh phúc mặt dù tính tình không phù hợp. Cho đến năm 2020 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, hai bên không còn nhẫn nhịn nhau, anh H luôn thể hiện tính gia trưởng, độc quyền độc đoán. Nhiều lần vợ chồng ngồi lại nói chuyện, tìm cách khắc phục tình trạng hôn nhân nhưng không tìm được tiếng nói chung; mâu thuẫn kéo dài đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được nên chị đã sống ly thân với anh H hơn 01 năm nay. Hiện tại chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không thể duy trì, không sống chung được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Trọng H.
Về con chung: Chị và anh Lê Trọng H chỉ có tất cả 02 người con chung gồm:
- Lê Đặng Tiến Đ, sinh ngày 29/12/2004;
- Lê Đặng Nhã Ý, sinh ngày 17/3/2013.
Hiện tại Lê Đặng Tiến Đ, Lê Đặng Nhã Ý đang sống chung với anh H.
Sau khi ly hôn chị Ngọc M yêu cầu được cháu Lê Đặng Nhã Ý, yêu cầu anh Lê Trọng H cấp dưỡng nuôi cháu Lê Đặng Nhã Ý mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Lê Đặng Nhã Ý tròn 18 tuổi.
Đối với Lê Đặng Tiến Đ đã trưởng thành nhưng đang học đại học yêu cầu anh H phải chấp dưỡng cho cháu 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi Lê Đặng Tiến Đ tốt nghiệp đại học.
Về tài sản chung: Chưa có yêu cầu phân chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Lê Trọng H trình bày: Sau khi kết hôn từ năm 2004 đến năm 2013 hôn nhân giữa anh với chị Ngọc M có cuộc sống hạnh phúc bình thường. Sau đó thì có mâu thuẫn nhỏ, vợ anh về bên gia đình cha mẹ vợ sống, anh có đến năn nỉ, gọi về sống đoàn tụ, nuôi dạy con chung. Do vợ chồng còn thương yêu nhau nên anh không đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Đặng Thị Ngọc M thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện; giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Lê Trọng H; rút lại yêu cầu được nuôi cháu Lê Đặng Nhã Ý và rút yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu Nhã ý và cháu Tiến Đ.
Bị đơn anh Lê Trọng H cho rằng anh còn yêu thương chị M nên không đồng ý ly hôn; về con chung hiện đang sống chung với anh và anh có trách nhiệm lo cho các con chung không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ do các bên cung cấp, chứng cứ do Tòa án thu thập. Trên cơ sở các lời khai và chứng cứ có trong hồ sơ; Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận cho chị Đặng Thị Ngọc M được ly hôn với anh Lê Trọng H;
Đình chỉ yêu cầu nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng;
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Đặng Thị Ngọc M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Trọng H, yêu cầu Tòa án giải quyết nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; bị đơn có địa chỉ tại ấp R, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý, Tòa án đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 196, 208, 209, 210 và Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có mặt; các đương sự không yêu cầu Tòa án triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Ngọc M và anh Lê Trọng H do có quen biết, tìm hiểu nên tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào năm 2004 nên đây là việc kết hôn hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn của chị Đặng Thị Ngọc M cũng như quan điểm của Viện kiểm sát Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận:
- Đối với yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Ngọc M: Trong quá trình sống chung, chị Đặng Thị Ngọc M cho rằng vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cự cãi với nhau, nguyên nhân anh Lê Trọng H thiếu trách nhiệm với vợ con, anh H thể hiện tính gia trưởng, độc quyền, độc đoán, không quan tâm nhau và không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đối với anh Lê Trọng H mặc dù anh cho rằng anh còn thương chị M không muốn ly hôn với chị M; nhưng sau khi Tòa án thụ lý, mời anh H đến Tòa án hòa giải để anh trình bày, hàn gắn tình cảm, đoàn tụ với chị Đặng Thị Ngọc M nhưng anh Lê Trọng H không thể hiện thành ý hàn gắn, đoàn tụ với chị Đặng Thị Ngọc M và chị M vẫn cương quyết ly hôn với anh H.
Xét thấy, trong thời gian ly thân cho đến nay, chị M và anh H không tiếp xúc, không hàn gắn lại với nhau, anh H cho rằng anh còn thương yêu chị M nhưng anh không đến gặp chị M, không đón chị M về chung sống với anh. Từ các nhận định, phân tích trên có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu ly hôn của chị M đối với anh H cũng như xét đề nghị của V đại diện Viện kiểm sát cho chị M được ly hôn với anh H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị M được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Tại phiên tòa chị M rút lại yêu cầu nuôi con chung là cháu Lê Đặng Nhã Ý và rút lại yêu cầu buộc anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Lê Đặng Tiến Đ với lý do cháu Tiến Đ, cháu Nhã Ý hiện đang sống chung với anh H và cháu Nhã Ý cũng không tự nguyện sống chung với chị M. Việc rút yêu cầu nôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị M là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật được quy định tại khoản 2 Điều 244 nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của chị M.
Hiện tại cháu Lê Đặng Nhã Ý đang sống chung với anh H, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử giao cháu Lê Đặng Nhã Ý cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, do anh H không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với Lê Đặng Tiến Đ đã thành niên, không bị hạn chế về năng lực hành vi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu và phía anh H không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí sơ thẩm: Chị Đặng Thị Ngọc M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 57, khoản 1 Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Ngọc M.
- Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Ngọc M được ly hôn anh Lê Trọng H.
- Về con chung:
Đình chỉ yêu cầu nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị Đặng Thị Ngọc M.
Giao cháu Lê Đặng Nhã Ý, sinh ngày 17/3/2013 cho anh Lê Trọng H tiếp tục nuôi dưỡng. Do anh H không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án sẽ thụ lý giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Đối với Lê Đặng Tiến Đ đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị Ngọc M và anh Lê Trọng H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Đặng Thị Ngọc M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000550 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Hùng |
Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
