Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/9/2024

Về việc “tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Thu Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Minh Trung và bà Huỳnh Thị Minh Hải.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Hiền, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa tham gia phiên tòa: ông Bùi Xuân Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐST-DS ngày 23/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Lê Thị N, sinh năm 1994; địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: anh Lê Minh T, sinh năm 1993; địa chỉ: khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị N và anh T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 13/9/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2022 thì quan hệ vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn, cãi vả nhau do anh T không lo làm ăn, chăm lo cho gia đình. Năm 2023 anh T lấy cớ lấy tiền đi xuất khẩu lao động nhưng không đi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Do đó chị N dắt con về nhà mẹ đẻ ở huyện T ở và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: có 01 con chung Lê Hoàn Minh K, sinh ngày 31/3/2019. Hiện nay con chung đang do chị N nuôi dưỡng, nên khi ly hôn chị N yêu cầu tiếp tục được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết, bị đơn anh Lê Minh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng bị đơn không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Các đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đề nghị Toà án tiến hành xét xử theo quy định.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị N: về quan hệ hôn nhân cho chị N được ly hôn anh T; về con chung: giao con chung cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Chị Lê Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Lê Minh T hiện đang cư trú tại khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa.

[1.2] Nguyên đơn và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị N và anh T tự nguyện tìm hiểu nhau, đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân thị trấn P cấp Giấy chứng nhận kết hôn Số 57/2018, ngày 13/9/2018 là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa chị N và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vả nhau lý do anh T không lo làm ăn, chăm lo cho gia đình. Dù đã được hai bên gia đình nhiều lần hàn gắn nhưng không thành do đó chị N dắt con về nhà mẹ đẻ ở huyện T sống và vợ chống sống ly thân không ai quan tâm đến ai cho đến nay. Điều này phù hợp với trình bày của bà Lê Thị Đ (mẹ ruột của anh T). Xét thấy, vợ chồng chị N và anh T đã có khoảng thời gian sống ly thân nhưng chưa hàn gắn được, nay chị N yêu cầu ly hôn, anh T không đến Tòa án để hòa giải, giải quyết mâu thuẫn là không quan tâm níu kéo, hàn gắn, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N được ly hôn với anh T.

[2.2] Về con chung: có 01 con chung là Lê Hoàn Minh K, sinh ngày 31/3/2019. Xét thấy, từ khi vợ chồng chị N và anh T sống ly thân cháu K do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N có đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng con chung và anh T không có ý kiến phản đối. Do đó, để cháu K được ổn định cuộc sống cả về mặt thể chất và tinh thần thì cần giữ nguyên việc chị N được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K.

Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí: căn cứ Điều 26, 27 nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: chị N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 57, 82, 83, 84, 107, 110 Luật Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị N được ly hôn với anh Lê Minh T.
  2. Về con chung: giao con chung là Lê Hoàn Minh K, sinh ngày 31/3/2019 cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
  3. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền được thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. Về tài sản chung: không xem xét.
  5. Về án phí: chị Lê Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004640 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Phú Hoà ;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND TT Phú Hòa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Thu Hà

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thanh Khảnh

Nguyễn Văn Thư

Cao Thị Thu Hà

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Bảy

Lê Thanh Khảnh

Nguyễn Hữu Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nghị - tường tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger