Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HNGĐ-ST

Ngày 04-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Dịu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Đặng Thị Đôi
  • Bà Phan Thị Minh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48a/2024/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn C, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  • - Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 20 tháng 02 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Vũ Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Phan Văn T từ ngày 26 tháng 11 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã H, huyện K (Giấy chứng nhận kết hôn số 72). Vợ chồng chung sống đến tháng 4 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, anh T ham chơi bài bạc, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở nhiều lần, lần sau cùng từ tháng 01 năm 2024 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị xin ly hôn anh T.

Về con chung: Anh chị có 03 con là Phan Thị Bích L1, sinh ngày 08/9/2008; Phan Văn T1, sinh ngày 26/8/2010; Phan Thị Ngọc H, sinh ngày 04/12/2016. Khi chị về bố mẹ đẻ ở, có mang theo cháu H về nhưng anh T ngăn cản nên hiện nay ba con đang do anh T nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H đến khi đủ 18 tuổi, trên cơ sở nguyện vọng của cháu; đồng ý giao cháu L1 và cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, trên cơ sở nguyện vọng của hai cháu. Do chị nuôi một con, anh T nuôi hai con nên chị nhận có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi một con (cháu L1) cho anh T là 2.000.000 đồng/ 01 tháng cho đến khi cháu L1 đủ 18 tuổi.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Phan Văn T trình bày ngày 20/5/2024 thống nhất với chị L về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thống nhất trong làm ăn kinh tế và chia sẻ công việc gia đình. Chị L đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở nhiều lần, lần sau cùng từ cuối tháng 01 năm 2024 đến nay không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình nhưng anh còn tình cảm với chị L, mong được đoàn tụ để nuôi dạy con chung. Nếu chị L cương quyết xin ly hôn anh thì đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị L.

Về con chung: Anh chị có 03 con như chị L đã khai. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con đến khi các cháu đủ 18 tuổi; vì anh làm nghề xây dựng thu nhập trung bình trên 10 triệu đồng/tháng, có chỗ ở ổn định. Anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi ba con cho anh.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị L giữ nguyên toàn bộ nội dung, yêu cầu nêu trên. Anh T2 vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị L, cho chị Vũ Thị L được ly hôn anh Phan Văn T.
  • - Về con chung: Giao cháu Phan Thị Bích L1, sinh ngày 08/9/2008 và cháu Phan Văn T1, sinh ngày 26/8/2010 cho anh Phan Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao cháu Phan Thị Ngọc H, sinh ngày 04/12/2016 cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu L1 cho anh T là 2.000.000 đồng/ 01 tháng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
  • - Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  • - Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Thị L xin ly hôn anh Phan Văn T và yêu cầu giải quyết nuôi con tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy. Anh T2 đang cư trú tại xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.

[2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Anh T2 là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự ; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T2.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L xin ly hôn anh Phan Văn T; căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chính quyền xã H cung cấp thì hôn nhân của chị Vũ Thị L và anh Phan Văn T là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn từ tháng 4 năm 2022, do bất đồng quan điểm sống, mất niềm tin về kinh tế và tình cảm, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Chị L đã về nhà mẹ đẻ ở nhiều lần, lần sau cùng từ đầu năm 2024 đến nay không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân của anh chị thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; yêu cầu xin ly hôn của chị L có cơ sở chấp nhận nên xử cho chị L được ly hôn anh T là phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa; không chấp nhận yêu cầu xin đoàn tụ của anh T.

[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 03 con chung là Phan Thị Bích L1, sinh ngày 08/9/2008; Phan Văn T1, sinh ngày 26/8/2010; Phan Thị Ngọc H, sinh ngày 04/12/2016, đang do anh T nuôi dưỡng. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H đến khi đủ 18 tuổi; đồng ý giao cháu L1 và cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi một con (cháu L1) cho anh T, mỗi tháng 2.000.000 tháng đến khi cháu L1 đủ 18 tuổi. Anh T2 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của các đương sự; ý kiến trình bày của đại diện gia đình chị L cũng như chính quyền xã H cung cấp thì chị L làm công nhân thu nhập trung bình 10.500.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu H. Anh T2 làm việc trong lĩnh vực xây dựng, thu nhập thu nhập trung bình trên 10.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định. Khi chị L bỏ về nhà mẹ đẻ ở, cháu L1, cháu T1 được anh T2 nuôi dưỡng đảm bảo, đầy đủ điều kiện cho các cháu có cuộc sống ổn định, bên cạnh đó còn có sự giúp đỡ của mẹ đẻ anh T2. Mặt khác, nguyện vọng của cháu L1 và cháu T1 được ở với anh T2, nguyện vọng của cháu H được ở với chị L nên giao cháu L1, cháu T1 cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị L nuôi một con là cháu H, sinh năm 2016; anh T2 nuôi hai con là cháu L1, sinh năm 2008, cháu T1 sinh năm 2010 nên chị L tự nguyện nhận có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu L1 cho anh T2 mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi cháu L1 đủ 18 tuổi là phù hợp với các Điều 81,82,83 của Luật hôn nhân và gia đình; không chấp nhận nguyện vọng của anh T2 được trực tiếp nuôi cả ba con chung.

[5] Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Vũ Thị L không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật không có giá ngạch.

[7] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L được ly hôn anh Phan Văn T.
  2. Về con chung: Giao cháu Phan Thị Bích L1, sinh ngày 08/9/2008 và cháu Phan Văn T1, sinh ngày 26/8/2010 cho anh Phan Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao cháu Phan Thị Ngọc H, sinh ngày 04/12/2016 cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Vũ Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu L1 cho anh Phan Văn T là 2.000.000 đồng/tháng đến cháu khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; thời gian tính từ tháng 8 năm 2024.

Sau khi ly hôn, chị Vũ Thị L và anh Phan Văn T đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Phan Văn T cho đến khi thi hành án xong khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì chị Vũ Thị L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  2. Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007892 ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy. Chị Vũ Thị L còn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị L có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Phan Văn T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hữu Bằng; huyện Kiến Thụy;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Dịu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 40/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger