TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 40/2024/DS-ST Ngày 04-6-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Xuân Quang;
- 2. Bà Trần Thị Khuyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 31/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 32/2024/QĐST-DS ngày 29/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1968;
Nơi cư trú: 09 T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Bị đơn:
- 1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1971;
- Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.
- 2. Ông Đoàn Văn T, sinh năm 1968;
- Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, vắng mặt lần 02 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2024 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn bà Huỳnh Thị M trình bày:
Bà có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án để yêu cầu giải quyết buộc vợ chồng ông Đoàn Văn T và bà Trần Thị H ở thôn Đ, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định phải trả cho bà số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng còn nợ.
Xuất phát từ việc vợ chồng ông T, bà H cần tiền để trả đáo hạn ngân hàng, do bà và bà H có bán hàng ngoài chợ cũng quen biết nhau nên bà H, ông T tới nhà bà mượn nợ. Lần 1 là vào ngày 02/12/2018, vợ chồng bà H, ông T tới nhà bà mượn 10.000.000 đồng; lần 02 vào ngày 27/9/2022, vợ chồng bà H, ông T tới mượn bà 15.000.000 triệu đồng. Tổng cộng số tiền 02 lần là 25.000.000 đồng. Ông T, bà H có viết giấy vay tiền và cùng ký vào, có thoả thuận lãi suất theo lãi suất ngân hàng, cụ thể bao nhiêu bà không nhớ và có hứa hẹn với bà 02 tháng sau khi vay tiền sẽ trả hết số tiền nợ. Sau đó, vợ chồng ông T, bà H có trả lãi cho bà được 2 - 3 lần, số tiền bao nhiêu thì bà không nhớ, do cũng lâu rồi và lúc nhận tiền không viết giấy tờ hay sổ sách gì cả. Số tiền bà cho vợ chồng bà H, ông T mượn là do bà làm ăn buôn bán tích góp được. Tiền lãi vợ chồng bà H, ông T trả cho bà sau 1 tháng vay tiền, tức tháng 10/2022 trả 1 lần, tháng 11/2022 không trả, đến tháng 12/2022 bà nhắc mới trả tháng 12 đó. Đến tháng 01 năm 2023 thì không trả lãi nữa, còn tiền gốc thì chưa trả đồng nào. Sau đó, bà có qua nhà vợ chồng ông T, bà H hỏi nợ mấy lần nhưng họ chỉ hứa hẹn chứ không trả số tiền còn nợ. Bà không biết lý do vì sao vợ chồng ông T, bà H không trả tiền cho bà.
Nay bà yêu cầu vợ chồng ông T, bà H trả cho bà số tiền còn nợ 25.000.000 đồng, và trả tiền lãi (theo lãi suất ngân hàng) từ tháng 01 năm 2023 đến lúc trả xong nợ), trả 01 lần hết nợ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2024 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, bị đơn bà Trần Thị H trình bày:
Năm 2018, do cũng quen biết với bà Huỳnh Thị M, vợ chồng bà (chồng bà là Đoàn Văn T, sinh năm 1968) có mượn bà M 10.000.000 đồng để làm nhà, năm 2022 mượn thêm 15.000.000 đồng để trả tiền cám heo và chi các khoản khác, tổng cộng 02 lần vay là 25.000.000 đồng. Nhưng sau đó vợ chồng bà có trả cho bà M 5.000.000 đồng, còn nợ 20.000.000 đồng. Lúc vay có viết giấy vay tiền, lãi suất thoả thuận bằng miệng, cứ tính 400.000 đồng lãi suất cho 10.000.000 đồng tiền vay, thời gian trả nợ cũng 2 bên thoả thuận cho vợ chồng bà trả dần.
Vợ chồng bà tháng nào cũng trả lãi, mỗi tháng trà 800.000 đồng tiền lãi, trả tới tháng 04 năm 2023 thì vợ chồng bà xin không trả tiền lãi nữa để trả tiền gốc. Từ tháng 04/2023 đến tháng 10/2023 vợ chồng bà trả tiền gốc được 6.500.000 đồng, lúc trả không viết giấy tờ gì cả. Từ tháng 11 năm 2023 bà không trả tiền cho bà M nữa, nguyên nhân là do bà có đưa tiền qua mà bà M chê ít, không nhận nên bà cũng không trả nữa. Nay bà M khởi kiện yêu cầu Toà án buộc vợ chồng bà trả số tiền 25.000.000 đồng còn nợ và lãi suất chậm trả thì bà không đồng ý. Bà xác định số tiền gốc còn nợ là 13.500.000 đồng, vợ chồng bà sẽ trả dần số tiền đó cho bà M, không trả lãi suất chậm trả.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2024 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, bị đơn ông Đoàn Văn T trình bày:
Ông thống nhất như lời trình bày của bà H. Vợ chồng ông chỉ còn nợ bà M số tiền gốc là 13.500.000 đồng. Vợ chồng ông sẽ trả dần số tiền đó cho bà M, không trả lãi suất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về thủ tục thụ lý đơn khởi kiện cũng như các thủ tục tố tụng tiếp theo trong quá trình chuẩn bị xét xử đều được Thẩm phán thực hiện đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Trần Thị H và ông Đoàn Văn T phải trả cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị M số tiền còn nợ là 25.000.000 đồng và phải thanh toán lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Huỳnh Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà Trần Thị H và ông Đoàn Văn T ở thôn Đ, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định phải trả số tiền 25.000.000 đồng và lãi suất chậm trả, là khoản tiền vợ chồng bà H, ông T mượn của bà M để trả các khoản vay khác nên Tòa án xác định đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Đoàn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 02 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự tại phiên tòa có căn cứ xác định ngày 02/12/2018 vợ chồng bà H, ông T có vay bà M số tiền 10.000.000 đồng; ngày 27/9/2022 vay số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận với mục đích để trả các khoản vay khác. Khi vay, hai bên thỏa thuận 02 tháng sau bà H, ông T sẽ trả số tiền trên cho bà M. Nhưng sau đó, vợ chồng bà Trần Thị H và ông Đoàn Văn T chỉ hứa hẹn mà không trả. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết nên nguyên đơn Huỳnh Thị M đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyêt buộc bà Trần Thị H và ông Đoàn Văn T phải trả số tiền còn nợ là 25.000.000 đồng và lãi suất chậm trả là là có căn cứ, phù hợp với quy định tại 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
[4] Đối với lời nại của bị đơn Trần Thị H và ông Đoàn Văn T thừa nhận có vay bà Huỳnh Thị M số tiền 25.000.000 đồng để làm nhà, trả tiền cám heo và chi các khoản khác nhưng sau đó đã trả 11.500.000 đồng tiền nợ gốc và có trả vài tháng tiền lãi, việc này không được bà M thừa nhận và bà H, ông T cũng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời khai của mình. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận lời trình bày của bà H, ông T.
[5] Trong quá trình giải quyết vụ án có sự mâu thuẫn lời khai giữa các bên về số tiền đã trả, Tòa án đã tiến hành đối chất nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai; bà Trần Thị H, ông Đoàn Văn T không giao nộp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình.
Do đó, Hội đồng xét xử cần tuyên buộc bị đơn bà Trần Thị H và ông Đoàn Văn T phải trả cho nguyên bà Huỳnh Thị M số tiền 25.000.000 đồng và lãi suất chậm trả 10%/năm = 0.83%/tháng, tính từ ngày 01/01/2023 đến 04/6/2024 là 16 tháng 4 ngày.
25.000.000 đồng x (0.83% × 16 tháng 4 ngày) = 3.347.667 đồng.
Tổng cộng bằng 25.000.000 đồng + 3.347.667 đồng = 28.347.667 đồng là số tiền cần buộc bị đơn Trần Thị H và Đoàn Văn T phải trả cho nguyên đơn Huỳnh Thị M là phù hợp.
[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Bà Trần Thị H, ông Đoàn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị M tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị M.
Buộc bị đơn Trần Thị H và Đoàn Văn T phải trả cho nguyên đơn Huỳnh Thị M số tiền 28.347.667 (hai mươi tám triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng. Trong đó tiền gốc 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng và lãi chậm trả 3.347.667 (ba triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn Trần Thị H và Đoàn Văn T phải chịu 1.417.383 (một triệu bốn trăm mười bảy nghìn ba trăm tám mươi ba) đồng.
Hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị M số tiền 625.000 (sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004630 ngày 19/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
3.1. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hồng Nam |
Bản án số 40/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 40/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mai, sinh năm 1968; Nơi cư trú: 09 Trần Quang Diệu, thị trấn Tăng Bạt Hổ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, . - Bị đơn: 1. Bà Trần Thị Hương, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn Đức Long, xã Ân Đức, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, . 2. Ông Đoàn Văn Tuyên, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Thôn Đức Long, xã Ân Đức, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định,
