Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BÌNH MINH

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 03 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thiết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Sơn Mứt

2. Ông Nguyễn Hữu Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhãn – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS, ngày 27/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2024/HSST-QĐ ngày 07/6/2024 đối với các bị cáo:

1. N***** V** Thum, sinh ngày 01-01-19xx; Nơi sinh: Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: k3, phường CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nxxxx Vxx Đại, sinh năm 19xx (chết) và bà Txxx Txx Lịch, sinh năm 19xx (chết); có vợ là Txxxx Nxxx Hạnh, sinh năm 19xx; Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 19xx, nhỏ nhất sinh năm 19xx; Anh, chị em ruột: có 04 người. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo N***** V** Thum đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên Toà.

2. N**** V** Tuấn, sinh ngày 01-01- 19xx; Nơi sinh: Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: k3, phường CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông N***** V** Thum, sinh năm 19xx và bà Txxxx Nxxx Hạnh, sinh năm 19xx; có vợ là Nxxxx Txx Nhanh; Con không có; Anh, chị em ruột: có 03 người. Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Ngày 24/9/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xử phạt 15 năm tù về tội “Giết người chưa đạt” theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 30/8/2010, đã được xóa án tích.

+ Ngày 09/7/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 26/5/2016, đã được xóa án tích.

Bị cáo N**** V** Tuấn bị tạm giữ từ ngày 07/7/2023 đến ngày 16/7/2023 thì bị tạm giam, đến ngày 03/01/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giam đồng thời ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 16/4/2024 tiếp tục bị bắt tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên Toà.

- Bị hại: Ông N***** V** Ngà, sinh năm 19xx (chết)

Địa chỉ: T17, k3, phường CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Anh N***** V** Châu, sinh năm 19xx - có mặt

Địa chỉ: T17, k3, phường CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà K** T** Phụng (vợ ông Ngà) - vắng mặt
  2. Chị N***** T** Ngọc, sinh năm 19xx (con ông Ngà) - vắng mặt
  3. Cùng địa chỉ: k3, phường CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

  4. Bà H**** T** Trúc, sinh năm 19xx – có mặt
  5. Địa chỉ: ấp TTA, xã TA, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng:

  1. Ông N***** T**** Ngoan, sinh năm 19xx – vắng mặt
  2. Địa chỉ: t16, k3, phường CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Bà Txxxx Nxxx Hạnh, sinh năm 19xx – có mặt
  4. Ông N***** H***** Vân, sinh năm 19xx – vắng mặt
  5. Anh M** N*** Triển, sinh năm 19xx – vắng mặt
  6. Bà N***** T** B*** Nga, sinh năm 19xx – vắng mặt
  7. Anh H**** Đ** Nhân, sinh năm 19xx – vắng mặt
  8. Ông T*** V** Năm, sinh năm 19xx – vắng mặt
  9. Ông H**** M*** Trí, sinh năm 19xx – vắng mặt
  10. Anh T**** T**** Điền, sinh năm 19xx – vắng mặt
  11. Anh P*** T**** Liêm, sinh năm 19xx – vắng mặt
  12. Cùng địa chỉ: k3, phường CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

  13. Ông T***** T**** Huy, sinh năm 19xx – vắng mặt
  14. Địa chỉ: t17, k3, phường CV, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

  15. Bà Ng**** T** Hoa, sinh năm 19xx – vắng mặt
  16. Địa chỉ: ấp ĐTB, xã ĐT, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 17 giờ, ngày 05/7/2023, bị cáo N***** V** Thum đang nằm võng trước nhà thuộc khóm 3, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh thì ông N***** V** Ngà (tên thường gọi M*** Dòi) là em cột chèo với bị cáo Thum ở cặp bên đi nhậu về, đi tới, đi lui nói chuyện um sùm, Thum kêu ông Ngà đi ngủ thì Ngà chửi thề. Thum đứng dậy hỏi Ngà chửi ai, Ngà không nói gì mà nhặt cục gạch ống trước nhà chọi trúng cánh tay phải của Thum, làm mặt ngoài cánh tay phải của Thum bị xay xát da; tiếp theo, Ngà đi đến đống củi lấy 01 cây dao tự chế đi về hướng Thum, Thum đưa tay trái lên chỉ Ngà và nói “Tao với mày có mích lòng gì M*** Dòi” thì Ngà cầm dao chém vào tay trái Thum trúng ngón tay cái nhưng chỉ bị xay xát nhẹ.

Sau đó, Ngà cầm cây dao đi xuống chiếc ghe của Ngà đậu ở mé sông Rạch Vồn (cách nhà 50 mét). Khi Ngà bỏ đi thì Thum nảy sinh ý định kêu con ruột là N**** V** Tuấn đánh Ngà vì Thum yếu sức không đánh lại.

Thum gặp vợ là bà T***** T** Hạnh nên kêu bà Hạnh đi tìm Tuấn, Hạnh không đồng ý. Sau đó, Thum gặp chị N***** T** Nhanh (là vợ Tuấn) đến sạc pin điện thoại nên Thum kêu đi kêu Tuấn đến gặp Thum nhưng không nói cho Nhanh biết mục đích Thum cần gặp Tuấn, thì Nhanh đồng ý (lúc này Tuấn đang ở dưới chiếc ghe đậu ở cầu huyện đội cách nhà Thum khoảng 200 mét).

Sau đó, Tuấn từ dưới ghe đi bộ lên đến đầu hẻm đường vào nhà Thum thì gặp Thum, Thum nói cho Tuấn biết sự việc bị ông Ngà chọi gạch và chém trúng vào tay, nói xong Thum kêu Tuấn đến nhà ông N***** T**** Ngoan là tổ trưởng tổ dân phố để báo sự việc.

Sau đó Tuấn đến gặp ông Ngoan nói “ông Ngà mà đánh ba con hoài, là con đâm ổng đó”, ông Ngoan kêu Tuấn đi về để ông Ngoan giải quyết.

Sau khi báo sự việc với ông Ngoan xong, Tuấn đi đến gặp ông Ngà để nói chuyện. Trong lúc Tuấn và ông Ngà nói chuyện qua lại thì cải nhau và thách thức đánh nhau. Ông Ngà lấy con dao tự chế dài 80cm từ dưới ghe đi lên bờ cầm dao nhá nhá về phía Tuấn, Tuấn thấy vậy nên chạy vào trong nhà của Thum tìm dao chém ông Ngà nhưng không có nên Tuấn lấy 01 cây sắt (loại sắt tròn phi 8, dài 1,52mét, có 01 đầu nhọn và 01 đầu bị bẻ cong) đi ra gặp ông Ngà để đánh nhau.

Lúc này, bà Hạnh đang ngồi tại quán của bà Nguyễn Thị Bích Nga (cách đầu hẻm vào nhà Thum 50 mét) nghe tiếng có người la “thằng Ngà cầm dao, thằng Tuấn cầm chĩa kìa” nên bà Hạnh chạy lại xem.

Thấy Tuấn và ông Ngà đang chuẩn bị đánh nhau nên bà Hạnh chụp cây sắt của Tuấn khuyên can thì Tuấn nói “bà buông ra không, tôi đâm bà luôn đó”, bà Hạnh sợ nên không dám can ngăn Tuấn nữa.

Sau đó, Tuấn và ông Ngà thách thức đánh nhau rồi 02 người đi ra bãi đất trống cặp đường lộ đal mé sông đánh nhau. Tuấn và ông Ngà đứng đối diện nhau, Tuấn đếm “1,2,3” thì Tuấn xông vào, ông Ngà cũng xông vào đánh nhau.

Trong lúc đánh nhau thì ông Ngà có cầm dao chém Tuấn nhưng Tuấn né được không trúng, còn Tuấn thì cầm cây sắt đâm trúng 01 cái vào mặt của ông Ngà. Ông Ngà chụp lấy cây sắt của Tuấn nên cả hai giằng co, vật lộn với nhau trên bãi đất làm cong thanh săt.

Sau đó, Tuấn ngồi đè lên người ông Ngà trong tư thế Ngà nằm ngữa, Tuấn dùng tay trái đè giữ cổ ông Ngà còn tay phải đấm vào mặt khoảng 03 - 04 cái, ông Ngà cũng dùng tay đánh lại Tuấn khoảng 02 - 03 cái vào vùng mặt của Tuấn, Tuấn nhặt được cục bê tông, cầm gọn trong lòng bàn tay đánh tiếp vào vùng mặt của ông Ngà khoảng 03 -04 cái.

Lúc này, bà Hạnh thấy trên vùng trán và lỗ mũi ông Ngà chảy máu nên bà đến can ngăn kéo Tuấn ra, Tuấn bỏ đi xuống chiếc ghe. Sau khi Tuấn xuống chiếc ghe thì Thum đi đến chổ ông Ngà đang nằm trên đường lộ đal, Thum khom người đánh hai cái vào người ông Ngà, đồng thời nói “lỗ mũi mày ra máu nhiều vậy Mười Dòi” thì Ngà liền đứng dậy đối diện với Thum. Sau đó, Ngà dùng chân phải đá vào chân trái Thum thì Thum dùng 02 tay chụp lấy hai bên vai của Ngà, xô ngã ngữa về phía sau, đồng thời Thum cũng ngã người theo sau khi xô ông Ngà làm cho vùng phía sau đầu của Ngà đập mạnh trực tiếp xuống mặt đường đal, gây ra thương tích cho Ngà ở vùng chẩm phải, người Thum cũng ngã sấp theo nằm đè trên người của ông Ngà.

Tuấn từ dưới ghe đi lên thấy Thum và ông Ngà đang nằm trên đường đal nên đỡ Thum đứng dậy rồi dẫn Thum vào nhà, còn Ngà được những người xung quanh đưa đến Trung tâm y tế thị xã Bình Minh cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ điều trị. Đến ngày 06/7/2023, sức khoẻ của Ngà chuyển biến xấu nên được đưa đến Bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ để điều trị, đến ngày 07/7/2023 thì Ngà tử vong.

Vật chứng thu giữ: 01 con dao tự chế dài 80cm (cán dao tròn bằng kim loại dài 50cm, đường kín 03cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm). 01 thanh kim loại (loại sắt tròn phi 8) dài 1,52m bị cong (có 01 đầu nhọn và 01 đầu bị cong biến dạng).

Kết luận giám định tử thi số 477/KLGĐTT-KTHS, ngày 10/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận nguyên nhân tử vong đối với ông N***** V** Ngà như sau: Nhiều ổ tụ máu trong mô não; Tụ máu thành bánh bán cầu bên trái; Phù não toàn bộ bán cầu đại não hai bên; Tụ máu dưới màng cứng lan toả toàn bộ bán cầu đại não hai bên; Hở khớp liên đỉnh; Tụ máu cơ thái dương trái; Tụ máu dưới da đầu vùng đỉnh – chẩm – thái dương hai bên; Bầm máu hai mắt.

- Kết luận nguyên nhân chết: N***** V** Ngà chết là do chấn thương sọ não.

Ngày 29/9/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long có công văn số 361/PC09 giải thích cơ chế hình thành các vết thương như sau:

- Vết khâu da vùng trán trái, vết khâu da vùng chẩm phải, vết khâu da sau đuôi mắt trái, vết khâu da cạnh bên phải mũi. Các vết khâu da này đã được cơ sở y tế xử lý (có thể cắt lọc) vết thương xong và tiến hành khâu da lại nên không thể xác định cơ chế hình thành cũng như vật gây ra vết thương.

- Bầm máu mắt phải, bầm máu mắt trái, do tổn thương sọ gây ra máu chảy vào hố mắt dẫn đến bầm hai mắt.

- Bầm máu sau đuôi mày phải là do vật tày có cạnh tác động một lực nhẹ trực tiếp từ trái qua phải không gây ra tổn thương sâu bên trong.

- Sây sát da không liên tục vùng cô trái, sây sát da vùng lưng phải do vật nhọn tác động chếch không gây ra tổn thương sâu bên trong.

- Gãy kín xương chính mũi, sây sát da mặt sau khuỷa tay phải, sây sát da mặt ngoài 1/3 cẳng tay trái, sây sát da gót chân phải là do vật tày diện rộng tác động.

Trong các vết thương trên thì vết thương khâu vùng chẩm phải khi phẫu thuật vào bên trong, đây là tổn thương do vật tày diện rộng, tác động một lực rất mạnh, trực tiếp, có hướng từ sau ra trước, từ ngoài vào trong, từ phải sang trái gây tụ máu dưới da đầu, hở khớp liên đỉnh, tụ máu dưới màng cứng nhiều nhất bên bán cầu trái, vỡ các mạch máu trong mô não dẫn đến tạo thành ổ tụ máu trong mô não, sau đó phù não toàn bộ, chèn ép não, đây là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong.

Công văn số 146/C09B ngày 17/01/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chính Minh xác định tổng tỷ lệ phần trăm các vết thương gồm: Vết khâu da vùng trán trái; Vết khâu da sau đuôi mắt trái; Vết khâu da cạnh bên phải mũi; Sây sát da không liên tục vùng cổ trái; Sây sát da vùng lưng phải; Sây sát da mặt sau khuỷa tay phải; Sây sát da mặt ngoài 1/3 trên cẳng tay trái; Sây sát da vùng gót chân phải; Gãy kín xương chính mũi; Gãy cung gò má và xương bướm trái; Gãy xương hàm trên bên trái là 29,93% là do bị cáo N**** V** Tuấn gây ra trong lúc đánh nhau với ông Ngà bằng thanh sắt, bằng tay và bằng tay có cầm cục bê tông trong lòng bàn tay phải.

- Cáo trạng số 32/CT-VKSBM, ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh đã truy tố các bị cáo:

+ Bị cáo N***** V** Thum về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm a, khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

+ Bị cáo N**** V** Tuấn về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ, khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo N***** V** Thum khai: Thừa nhận có việc gây thương tích cho ông Ngà như nội dung cáo trạng nêu, tuy nhiên, bị cáo cho rằng do ông N***** V** Ngà là người đánh ông Thum trước, sau đó ông Thum mới kêu con là N**** V** Tuấn về đánh ông Ngà, do Thum đánh không lại.

- Bị cáo N**** V** Tuấn khai: Thừa nhận có tham gia đánh ông Ngà bằng tay và bằng cây sắt phi 8, không thừa nhận có việc đánh N***** V** Ngà bằng cục đá, thừa nhận tỷ lệ thương tích trên người N***** V** Ngà do bị cáo gây ra với tỷ lệ là 29.93% như kết luận giám định và nội dung cáo Trạng, thống nhất với các kết luận giám định nêu trên nhưng cho rằng không có đánh bị hại bằng cục đá.

- Anh N***** V** Châu là người đại diện hợp pháp cho bị hại trình bày: Thống nhất với nội dung cáo trạng đã truy tố N***** V** Thum, N**** V** Tuấn về tội danh và mức hình phạt, về trách nhiệm dân sự anh Châu không yêu cầu bồi thường chi phí điều trị cũng như chi phí mai táng phí.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị H**** T**** Trúc trình bày: Chị Trúc có tham gia nuôi ông Ngà tại bệnh viện nhưng không yêu cầu bồi thường mất thu nhập, thống nhất với nội dung cáo trạng đã truy tố N***** V** Thum, N**** V** Tuấn về tội danh và mức hình phạt thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên Toà.

- Bà T***** T** Hạnh là người làm chứng trình bày: Bà Hạnh có thấy việc Tuấn tham gia đánh ông Ngà như nội dung cáo trạng đã nêu tại phiên Toà, còn Tuấn có đánh ông Ngà bằng cục đá hay không bà không biết.

- Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, khẳng định nội dung cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời phân tích các yếu tố câu thành tội phạm, đánh giá tính chất mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo N***** V** Thum và N**** V** Tuấn phạm tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự.

+ Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; Điều 38; điểm e, o, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo N***** V** Thum mức án từ 05 (năm) năm tù đến 06 (sáu) năm tù.

+ Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo N**** V** Tuấn mức án từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm, 06 (sáu) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: N***** V** Châu không yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, mất thu nhập nên không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 con dao tự chế dài 80cm; 01 thanh kim loại sắt tròn phi 8, dài 1,52m.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc N**** V** Tuấn nộp 200.000đồng án phí. Miễn án phí hình sự cho bị cáo N***** V** Thum do bị cáo là người cao tuổi.

Bị cáo Thum và Tuấn không tranh luận với Kiểm sát viên, thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng quy kết, các kết luận giám định và các tình tiết giảm nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét thấy, việc vắng mặt của: K** T** Phung và N***** T** Ngọc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và những người làm chứng, đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Thum, Tuấn khai nhận hành vi phạm tội như đã khai trong quá trình điều tra. Thum và Thuấn xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Về phần trách nhiệm dân sự thống nhất với ý kiến của người đại diện hợp pháp cho bị hại.

[2.1] Xét lời khai của N***** V** Thum và N***** V**Thuấn là phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản giám định pháp y, biên bản thu giữ vật chứng, sơ đồ hiện trường cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Lúc 17 giờ, ngày 05/7/2023, bị cáo N***** V** Thum đang ở nhà thì bị hại ông N***** V** Ngà đi nhậu về nói chuyện um sùm nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, cải nhau. Sau đó bị hại N***** V** Ngà dùng gạch chọi, dùng dao chém bị cáo Thum gây xay xát da. Bị cáo N***** V** Thum tức giận nhưng do sức yếu không đánh lại bị hại nên kêu con ruột là bị cáo N**** V** Tuấn về đánh bị hại. Trước khi đánh, bị cáo Thum có kêu bị cáo Tuấn đến gặp tổ trưởng tổ dân phố trình báo sự việc bị cáo Thum bị Ngà đánh trước.

Sau đó, bị cáo Tuấn có đến gặp ông N***** T**** Ngoan là trưởng ấp trình báo sự việc xong thì quay lại tìm bị hại Ngã nói chuyện thì giữa bị cáo Tuấn và bị hại xảy ra cự cải, thách thức đánh nhau. Tuấn vào nhà lấy 01 cây sắt, dài 1,52 mét, còn bị hại Ngà cầm cây dao tự chế dài 80cm.

Bị hại Ngà cầm dao chém bị cáo Tuấn không trúng, Tuấn dùng cây sắt đâm trúng một cái vào mặt bị hại. Sau đó, bị cáo Tuấn và bị hại giằng co, vật lộn với nhau, Tuấn ngồi đè lên người bị hại rồi dùng tay trái đè giữ cổ, tay phải đấm vào mặt bị hại từ 03 đến 04 cái, tiếp theo bị cáo Tuấn nhặt cục bê tông nhỏ đánh vào vùng mặt của bị hại khoảng 03 đến 04 cái gây thương tích, sau đó bà T***** T** Hạnh đến can ngăn nên hai bên không đánh nữa.

Các vết thương bị cáo Tuấn gây ra cho N***** V** Ngà gồm: Vết thương vùng trán trái, sau đuôi mắt trái, cạnh bên phải mũi, sây sát da ở vùng cổ trái, sây sát da vùng lưng phải, sây sát da mặt sau khuỷa tay phải, sây sát da mặt ngoài 1/3 trên cẳng tay trái, sát da vùng gót chân phải, gãy kín xương chính mũi, gãy cung gò má và xương bướm trái và gãy xương hàm trên bên trái. Kết luận giám định thương tích chung là 29,93%.

Sau khi N***** V** Ngà bị Tuấn đánh nằm trên đường lộ đal thì Thum đi lại đứng kế bên chỗ bị hại Ngà nằm, bị cáo Thum khom người đánh hai cái vào người bị hại thì Ngà liền đứng dậy đối diện với bị cáo Thum, Ngà giơ chân lên đá Thum thì Thum dùng 02 tay chụp lấy hai bên vai của Ngà và xô Ngà ngã ngữa về phía sau, đồng thời Thum cũng ngã người theo sau khi xô Ngà làm cho vùng phía sau đầu của Ngà đập mạnh trực tiếp xuống mặt đường đal gây ra thương tích cho ông Ngà ở vùng chẩm phải, chấn thương sọ não.

Hậu quả: Ông N***** V** Ngà được đưa đi cấp cứu điều trị, đến ngày 07/7/2023 thì tử vong.

Nguyên nhân tử vong do: Vết thương ở vùng chẩm gây tụ máu dưới da đầu, hở khớp liên đỉnh, tụ máu dưới màng cứng nhiều nhất bên bán cầu trái, vỡ các mạch máu trong mô não dẫn đến tạo thành ổ tụ máu trong mô não, phù não toàn bộ, chèn ép não.

Trong vụ án, không có đồng phạm mà do ý thức của các bị cáo tự thực hiện, không có bàn bạc trước, không kích động, dụ dỗ, thúc đẩy việc phạm tội. Bị cáo Tuấn đánh bị hại gây thương tích xong thì đã bỏ đi, Tuấn không biết, không tham gia nên không phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả chết người do Thum tự gây ra.

Hành vi trên của N***** V** Thum và N**** V** Tuấn là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Hành vi của Thum đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Tuấn đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Căn cứ xác định trách nhiệm hình sự:

Kết luận giám định tử thi số 477/KLGĐTT-KTHS ngày 10/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân N***** V** Ngà là do chấn thương sọ não.

Công văn số 361/PC09 giải thích cơ chế hình thành các vết thương: Vết khâu da vùng trán trái, vết khâu da vùng chẩm phải, vết khâu da sau đuôi mắt trái, vết khâu da cạnh bên phải mũi. Bầm mắt phải, bầm mắt trái là do tổn thương sọ gây ra máu chảy vào hố mắt dẫn đến bầm máu hai mắt. Bầm máu sau đuôi mày phải là do vật tày có cạnh tác động một lực nhẹ trực tiếp từ trái qua phải không gây ra tổn thương sâu bên trong. Sây sát da không liên tục vùng cổ trái, sây sát da vùng lưng phải do vật nhọn tác động không gây ra tổn thương sâu bên trong. Gãy kín xương chính mũi, sây sát da mặt sau khuỷa tay phải, sây sát da mặt ngoài 1/3 căng tay trái, sây sát da gót chân phải là do vật tày diện rộng tác động.

Trong các vết thương trên thì vết thương khâu vùng chẩm phải là tổn thương do vật tày tác động một lực rất mạnh, trực tiếp, có hướng từ sau ra trước, từ ngoài vào trong, từ phải sang trái gây tụ máu dưới da đầu, hở khớp liên đỉnh, tụ máu dưới màng cứng nhiều nhất bên bán cầu trái, vỡ các mạch máu trong mô não dẫn đến tạo thành ổ tụ máu, phù não toàn bộ, chèn ép não. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong.

- Tại kết luận giám định số: 7522/KLTgTHS-C09B ngày 15/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chính Minh kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông N***** V** Ngà cụ thể:

  • + Vết khâu da vùng trán trái: 03%
  • + Vết khâu da vùng chẩm: 01 %
  • + Vết khâu da sau đuôi mắt trái: 03%
  • + Vết khâu da cạnh bên phải mũi: 03%
  • + Sây sát da không liên tục vùng cổ trái: 0,5%
  • + Sây sát da vùng lưng phải: 0,5%
  • + Sây sát da mặt sau khuỷa tay phải: 0,5%
  • + Sây sát da mặt ngoài 1/3 trên căng tay trái: 0,5%
  • + Sây sát da vùng gót chân phải: 0,5%
  • + Dập xuất huyết não vùng trán hai bên: 21%
  • + Tụ máu dưới màng cứng bán cầu não trái: 11%
  • + Hở khớp liên đỉnh: 08%
  • + Gãy kín xương chính mũi: 07%
  • + Gãy cung gò má và xương bướm trái: 08%
  • + Gãy xương hàm trên bên trái: 08%
  • Tổng lệ phần trăm các tổn thương trên là 55% (năm mươi lăm phần trăm).

- Căn cứ vào công văn số 146/C09B ngày 17/01/2024 Phân viện khoa học hình sự tại TP Hồ Chính Minh xác định tổng tỷ lệ phần trăm các vết thương gồm: Da vùng trán trái; Da sau đuôi mắt trái; da cạnh bên phải mũi; Sây sát da không liên tục vùng cổ trái; Sây sát da vùng lưng phải; Sây sát da mặt sau khuỷa tay phải; Sây sát da mặt ngoài 1/3 trên cẳng tay trái; Sây sát da vùng gót chân phải; Gãy kín xương chính mũi; Gãy cung gò má và xương bướm trái; Gãy xương hàm trên bên trái, cộng chung là 29,93%.

- Lời khai các bị cáo N***** V** Thum, N**** V** Tuấn cùng với lời khai của những người làm chứng và kết quả thực nghiệm điều tra xác định:

Các vết thương của ông N***** V** Ngà với tỷ lệ 29,93% được phân tích theo Công văn số 146/C09B ngày 17/01/2024 là do bị cáo N**** V** Tuấn gây ra trong lúc đánh nhau với ông Ngà bằng thanh sắt, bằng tay và bằng tay có cầm cục bê tông trong lòng bàn tay phải.

Đối với vết thương ở vùng chẩm gây tụ máu dưới da đầu, hở khớp liên đỉnh, tụ máu dưới màng cứng nhiều nhất bên bán cầu trái, vỡ các mạch máu trong mô não dẫn đến tạo thành ổ tụ máu trong mô não, sau đó phù não toàn bộ, chèn ép não là nguyên nhân chính dẫn đến ông N***** V** Ngà tử vong được phân tích theo Công văn số 361/PC09 ngày 29/9/2023 là do bị cáo N***** V** Thum gây ra khi xô ông Nguyễn Văn Ngã té ngã ngữa phía sau đầu đập mạnh xuống đường đal, phù hợp với nội dung Công văn 56 ngày 07/3/2024 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: Với thể trạng như nạn nhân N***** V** Ngà, nếu bị người khác xô ngã ngữa đập đầu xuống mặt đường đal với một lực mạnh thì dẫn đến gây ra tổn thương vùng chẩm phải.

Do đó, bị cáo N***** V** Thum bị truy tố tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, khoản 4, Điều 134 Bộ luật hình sự;

Bị cáo N**** V** Tuấn bị truy tố tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Tại điểm a, khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người”.

Tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Tại điểm a, khoản 1 Điều này quy định như sau:

a) Dùng hung khí nguy hiểm”.

Các bị cáo N***** V** Thum và N**** V** Tuấn không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự;

Bị cáo Thum được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải; được quy định tại các điểm e, o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Tuấn không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do bị cáo N***** V** Thum có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xử bị báo mức án thấp nhất của khung hình phạt, cũng đảm bảo răng đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo N**** V** Tuấn có nhân thân xấu về tội giết người và cố ý gây thương tích nên xử bị báo mức án như kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, đảm bảo răng đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, người đại diện hợp pháp cho bị hại là anh N***** V** Châu không yêu cầu bồi thường các chi phí nên không xem xét.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

01 con dao tự chế dài 80cm và 01 thanh kim loại dài 1,52m, loại sắt tròn phi 8, là vật chứng của vụ án, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo N**** V** Tuấn nộp 200.000đồng.

- Bị cáo N***** V** Thum là người cao tuổi thuộc đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị Quyết 326/2021/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nên không phải chịu tiền án phí.

- Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.

[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố Bị cáo N***** V** Thum, N**** V** Tuấn phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
    • - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; Điều 38; điểm e, o, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
    • Xử phạt bị cáo N***** V** Thum 05 (năm) năm tù.
    • Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
    • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
    • - Xử phạt bị cáo N**** V** Tuấn 03 (ba) năm tù.
    • Thời hạn tù được tính kể từ ngày 16/4/2024.
    • (Được trừ đi thời giam tạm giữ từ ngày 07/7/2023 đến ngày 16/7/2023 thì bị tạm giam. Đến ngày 03/01/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giam, đến ngày 16/4/2024 tiếp tục bị bắt tạm giam cho đến ngày xét xử).
  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Anh N***** V** Châu là người đại diện hợp pháp cho bị hại và chị Huỳnh Thị Trúc không yêu cầu bồi thường chi phí nằm viện và mai táng phí nên không xem xét.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 38cm (cán dao tròn bằng kim loại dài 50cm, đường kín 03cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 6,8cm). 01 (một) thanh kim loại (loại sắt tròn phi 8) dài 1,52m bị cong (có 01 đầu nhọn và 01 đầu bị cong biến dạng).

    (Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh theo biên bản ngày 06- 5- 2024).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo N**** V** Tuấn, nộp 200.000đồng. Miễn án phí hình sự cho bị cáo N***** V** Thum do bị cáo là người cao tuổi.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng hồ sơ - Công an tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND TX Bình Minh;
  • - Chi cục THADS TX Bình Minh;
  • - CQĐT Công an TX Bình Minh;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trương Minh Thiết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thum - Tuấn cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger