Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 02-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Ngọc Trứ;
  2. Ông Trần Văn Tám.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tín - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Minh N

(tên gọi khác: Không), sinh ngày 17 tháng 9 năm 1999, tại tỉnh Tiền Giang;

  • - Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
  • - Nghề nghiệp: Không;
  • - Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12;
  • - Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
  • - Con của ông Ngô Phước T và bà Trần Ngọc T1;
  • - Bị cáo chưa có vợ con;
  • - Tiền án: Ngày 30/3/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 25/2021/HSST. Đã chấp hành xong án phạt tù ngày 20/01/2022;
  • - Tiền sự: Không có;
  • - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2023, chuyển sang tạm giam từ ngày 14/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
  • - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Minh N là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2013. Khoảng 16 giờ ngày 10/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N nhờ một người tên P (không rõ lai lịch, địa chỉ) liên lạc để hỏi mua của T2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) ma túy đá với số tiền là 1.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo N thuê một người đàn ông chạy xe honda khách (không rõ họ tên, địa chỉ) đi đến khu vực chợ T5 thuộc xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang để lấy ma túy. Tại một quán cà phê ở khu vực chợ T5, T2 đưa cho N một túi nylong dạng Bzip được hàn kín, bên trong túi nylong chứa ma túy. Khi về đến nhà, N đem gói nylong đựng ma túy vừa mua được của T2 cất giấu dưới tấm nệm trong phòng ngủ. Đến tối cùng ngày, N lấy một ít ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn tại nhà rồi tự nấu ma túy lên sử dụng, số ma túy còn lại N đem giấu dưới tấm nệm trong phòng ngủ, mục đích chờ khi nào có nhu cầu sẽ lấy ra sử dụng tiếp.

Đến khoảng 10 giờ ngày 11/12/2023, khi N đang ngủ trong phòng thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện túi nylong đựng ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy trong phòng của N nên lập biên bản và thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

* Vật chứng thu giữ được bao gồm:

  • - 01 túi nylon dạng Bzip, màu trắng kích thước (7,6x4) cm được hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể rắn, màu trắng nghi là ma túy;
  • - 02 (hai) đoạn ống thủy tinh, có gắn phểu;
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có gắn nắp đỏ và ống hút nhựa màu trắng;
  • - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh.

* Kết luận giám định số 219/KL-KTHS ngày 12/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,7311 gam, loại Methamphetamine.”

* Cáo trạng số 36/CT-VKSTXCL ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trần Minh N để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố, trình bày tranh luận và luận tội:

  • - Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Minh N, ngoài ra còn phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
  • - Đề nghị Hội đồng xét xử:
  • + Tuyên bố bị cáo Trần Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • + Áp dụng Điều 32, 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Minh N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;
  • + Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • . Tịch thu và tiêu hủy đối với: 01 (một) phong bì chứa chất ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong ký hiệu vụ số 219 ghi ngày 12/12/2023, có các chữ ký in họ tên Huỳnh Thị Diệu H (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lý giám định viên), Nguyễn Ngọc T3 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; 02 (hai) đoạn ống thủy tinh, có gắn phểu và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có gắn nắp đỏ và ống hút nhựa màu trắng.
  • . Trả lại cho bị cáo Trần Minh N 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh.

2. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố. Đồng thời, bị cáo không có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra cũng như không có ý kiến gì về đề nghị xử lý vật chứng của Viện kiểm sát.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận và thống nhất đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa;

3. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

  • - Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát Điều tra và Viện kiểm sát thu thập là hợp pháp.
  • - Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Minh N tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Khoảng 10 giờ ngày 11/12/2023, tại ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, Trần Minh N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 1,7311 gam, nhằm mục đích sử dụng.

[2.2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp lời khai của những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Trần Minh N với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, làm mất trật tự an toàn công cộng và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng tại địa phương. Việc mua, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, cướp giật, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm căn bệnh HIV/AIDS qua con đường tiêm chích ma túy. Loại ma túy mà bị cáo tàng trữ là Methamphetamine, đây là loại độc dược gây nghiện, có nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Hiện nay, tệ nạn hút chích ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước không ngừng tuyên truyền giáo dục và vận động toàn xã hội ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy thì vẫn còn những người vì mục đích tư lợi đã lén lút hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi nhưng vẫn sa ngã vào tệ nạn xã hội. Do đó, cần phải xét xử bị cáo thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Bị cáo Trần Minh N có bà ngoại là bà Trần Thị N1 được nhà nước trao tặng Huy chương kháng chiến hàng nhì nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo.

[2.5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 30/3/2021, bị cáo Trần Minh N đã bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 25/2021/HSST và chấp hành xong án phạt tù ngày 20/01/2022. Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nên đây là tình tiết tái phạm được quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

[2.6] Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo và giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

[3] Xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) phong bì chứa chất ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong ký hiệu vụ số 219 ghi ngày 12/12/2023, có các chữ ký in họ tên Huỳnh Thị Diệu H (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lý giám định viên), Nguyễn Ngọc T3 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ và lưu hành nên cần phải tịch thu tiêu hủy;
  • - Đối với 02 (hai) đoạn ống thủy tinh, có gắn phểu và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có gắn nắp đỏ và ống hút nhựa màu trắng đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng cho việc sử dụng ma túy, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh đây là tài sản của bị cáo Trần Minh N, không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Trần Minh N. Tuy nhiên, cần giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tiếp tục tạm giữ để đảm bảo về phần nghĩa vụ thi hành án của bị cáo N.

Các vật chứng hiện do cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/4/2024.

[4] Về các vấn đề khác trong vụ án:

  • - Đối với người đàn ông tên T2 bán ma túy cho N, đối tượng tên P là người liên lạc với T2 giúp N để mua ma túy và người chạy xe honda ôm chở N đi mua ma túy. Các đối tượng trên do không xác định họ tên, địa chỉ cụ thể nên không tiến hành tố tụng được. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Minh N, Công an thị xã C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
  • - Bà Trần Ngọc T1 là mẹ ruột của bị can N và là chủ căn nhà T4 tàng trữ trái phép chất ma túy, việc N tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà bà T1 không biết. Do đó, bà T1 không có dấu hiệu tội phạm.

[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là phù hợp toàn bộ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 32, 38, 46, 47, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 53, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Điều 106, 135, 136, 290, 299, 326, 327, 331, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt bị cáo Trần Minh N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 11 tháng 12 năm 2023.
  2. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu và tiêu hủy đối với:
      • - 01 phong bì chứa chất ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong ký hiệu vụ số 219 ghi ngày 12/12/2023, có các chữ ký in họ tên Huỳnh Thị Diệu H (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lý giám định viên), Nguyễn Ngọc T3 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG;
      • - 02 (hai) đoạn ống thủy tinh, có gắn phểu;
      • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có gắn nắp đỏ và ống hút nhựa màu trắng.
    2. Tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tạm giữ đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh của bị cáo Trần Minh N.
    3. Các vật chứng hiện đang do cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/4/2024.
  3. Về án phí: Bị cáo Trần Minh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Minh N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy;
  • - Công an thị xã Cai Lậy;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Phong Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger