Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN DŨNG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày 02-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tin – Giáo viên nghỉ hưu tại thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng;
  2. Bà Nguyễn Thị Nhàn – Cán bộ phòng Giáo dục và đào tạo huyện Yên Dũng nghỉ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn - Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giáp Xuân M, sinh năm 2004; nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 12/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông Giáp Văn T và con bà Dương Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến ngày 02/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện tại ngoại (có mặt).

* Bị hại: Dương Anh V, sinh năm 2012 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Dương Văn H, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:

Bà Nguyễn Thị Như Q – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (vắng mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Dương Thị D, sinh năm 1981 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Người làm chứng:

- Hoàng Tuấn V1, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

- Dương Minh T1, sinh năm 2010 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

(Đại diện hợp pháp của Dương Minh T1: Ông Dương Văn S, địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang - vắng mặt).

* Đại diện cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18 tuổi lao động, sinh hoạt:

Trường Trung học cơ sở N, xã N, huyện Y (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 18/11/2023, Giáp Xuân M đi bộ từ tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V đến khu vực trước cổng trường Trung học cơ sở xã N, thuộc địa phận xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì thấy trong trường đang diễn văn nghệ nên đi vào xem. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, M nhìn thấy cháu Dương A Việtthôn S, xã N, huyện Y là học sinh lớp 6C, đang ngồi tại ghế đá cách chỗ M đứng khoảng 10m, trên tay cháu V đang cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu đen xám. Quan sát thấy cháu V chỉ ngồi một mình, xung quanh không có ai nên M nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của cháu V để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. M tiến lại gần từ phía sau cháu V đang ngồi, lợi dụng lúc cháu V đang xem video trên điện thoại không để ý, M dùng tay phải giật chiếc điện thoại rồi bỏ chạy được khoảng 5m thì dừng lại nhìn chiếc điện thoại vừa giật. Lúc này, cháu Dương Minh T1thôn T, xã N, huyện Y là học sinh lớp 8 nhìn thấy đã đi đến chỗ M đang đứng và bảo M trả lại chiếc điện thoại cho cháu V thì M bỏ chạy ra khỏi cổng trường. Sau khi chạy ra ngoài, M tháo sim điện thoại đút vào túi quần rồi đi đến cửa hàng “Toàn cầu di động” ở thôn N, xã N, huyện Y gặp chủ cửa hàng là anh Hoàng T2 V1 đặt vấn đề bán chiếc điện thoại di động của cháu V cho anh V1 với giá 3.000.000 đồng. Khi M và anh V1 đang thoả thuận giá mua bán thì anh Dương Văn H là bố đẻ của cháu V phát hiện đã báo Công an xã N đến làm việc. Khi nhìn thấy lực lượng Công an đến, M không bán điện thoại nữa mà xin đầu thú và tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro Max và 01 chiếc sim điện thoại.

Sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành trích xuất hình ảnh camera tại khu vực cổng trường Trung học cơ sở xã N, thu giữ được hình ảnh M cầm chiếc điện thoại bỏ chạy ra khỏi cổng trường.

Ngày 22/11/2023, cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc điện thoại di động M chiếm đoạt của cháu V. Tại bản kết luận định giá tài sản số 77 ngày 22/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu đen xám trị giá 11.875.000 đồng.

Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 26/CT-VKSYD ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Giáp Xuân M về tội "Cướp giật tài sản" theo điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và xác định việc bị truy tố là đúng người, đúng tội, không oan.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Dương Thị D trình bày: Đối với số tiền 4.000.000 đồng mà gia đình bà đã bỏ ra để bồi thường cho bị hại nay bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên, vấn đề này gia đình bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này có trong hồ sơ vụ án.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt Giáp Xuân M 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 02/5/2024. Giao bị cáo Giáp Xuân M cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin hưởng mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy những người trên đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

[3] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Theo các tài liệu điều tra, thu thập trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 18/11/2023, tại Trường Trung học cơ sở N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, Giáp Xuân M đã thực hiện hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu đen xám trị giá 11.875.000 đồng của cháu Dương Anh V, sinh ngày 10/8/2012 ở thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại cho người bị hại.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra, bản ảnh hiện trường, kết luận định giá tài sản, vật chứng bị thu giữ cùng các tài liệu và chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giáp Xuân M phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự. Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với người dưới 16 tuổi nên thuộc tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Tuy nhiên cũng cần xem xét những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo trước khi lượng hình.

[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

  • * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; đã bồi thường thỏa đáng cho bị hại (bị hại yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần, bị cáo đã bồi thường xong); sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú và được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy bị cáo Giáp Xuân M được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xem xét về hình phạt theo đề nghị của Viện kiểm sát thì thấy:

Bị cáo Giáp Xuân M là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự), không phải chịu tình tiết tăng nặng. Căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (được sửa đổi bổ sung một số điều tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo). Xét thấy bị cáo Giáp Xuân M có đủ điều kiện được hưởng án treo và chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tội phạm này có quy định hình phạt bổ sung bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm, chưa có vợ con, không có tài sản, hiện vẫn sống phụ thuộc gia đình. Do vậy cần miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường tổn thất tinh thần, nay không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản gì khác. Do vậy về vấn đề trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với số tiền bà Dương Thị D bỏ ra để bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại (bồi thường thay cho bị cáo), nay bà D không yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu đen xám và 01 chiếc sim điện thoại cho anh Dương Văn H (là bố của bị hại). Xét thấy việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết vấn đề này.

[9] Đối với các vấn đề khác:

Đối với việc anh Hoàng Tuấn V1 tham gia giao dịch chiếc điện thoại mà bị cáo Giáp Xuân M cướp giật mang đến, quá trình điều tra xác định anh V1 không biết chiếc điện thoại trên là tài sản do M cướp giật mà có, mặt khác anh V1 chưa thực hiện việc mua bán với M nên Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý trách nhiệm đối với anh Hoàng Tuấn V1.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 292; Điều 293; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Xử phạt Giáp Xuân M 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản”, phải chịu thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 02/5/2024. Giao bị cáo Giáp Xuân M cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    - Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với Giáp Xuân M.

    - Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    * Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: Bị cáo Giáp Xuân M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Công an huyện Yên Dũng;
  • - VKSND huyện Yên Dũng;
  • - UBND xã Bảo Sơn, Lục Nam, BG;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - cướp giật tài sản

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 03 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger