Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI LỘC

TỈNH QUẢNG NAM

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 40/2024/HS-ST

Ngày: 22/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Tào Thị Bích Thuỷ
  • - Ông Võ Nam Phước.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt Sương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Đặng Ngọc B. Giới tính: nam.

Tên gọi khác: không; Sinh ngày 08/8/1977, tại: Đ, Quảng Nam. Nơi ĐKHKTT: K đường H, phường B, quận H, T ở hiện nay: kiệt E Đ, phường A, quận S, T độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: phóng viên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Đặng M Sinh năm 1952; Con bà: Huỳnh Thị L Sinh năm 1958; Bị cáo là con đầu trong gia đình có 04 anh em, bị can có vợ tên Phan Thị Y có 01 con sinh năm 2006 cùng trú tại K đường H, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ từ ngày 30/11/2023, chuyển tạm giam từ ngày 08/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, có mặt tại phiên Toà.

* Những người tham gia tố tụng:

1

- Bị cáo:

Đặng Ngọc B

Nơi ĐKHKTT: K266/H79/26C đường H, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Nơi thường trú: Kiệt E, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

- Bị hại: Công ty Cổ phần T4 chỉ thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam

Ông Hồ Hoàng P năm 1986 – Chức vụ: Giám đốc; Nơi ĐKHKTT: 110 N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:

Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1975; trú tại: thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam– Là quản lý Công ty cổ phần T5; có mặt.

- Bị hại: bà Đỗ Thị B1, sinh năm 1972- Giám đốc Công ty A1 chỉ: thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1975; trú tại: thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

Nơi thường trú: 379 Y, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng.

  1. Mai A Đ sinh năm 1985 (vợ của Huỳnh Ngọc H – đã chết)

Địa chỉ: A, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

  1. Tạp chí Môi trường và Xã hội – Ông Tạ Văn M là Tổng biên tập; địa chỉ: số A, ngách A đường N, phường N, quận T, Hà Nội.

Ông Tạ Văn M ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H1 năm 1975; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội thay mặt Tổng Biên tập và T5; có mặt.

  1. Ông Nguyễn Mạnh H2 năm 1983

Trưởng Văn phòng đại diện Tạp chí Môi trường và Xã hội tại Đắk Lắk

Nơi thường trú: 802 Ct12bKĐT K, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.

  1. Phạm Thị Y1 sinh năm 1979

Nơi thường trú: Kiệt E, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; có mặt

  1. Trần Cảnh T sinh năm 1975

Trú tại: Xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam

2

mặt.

Quản lý Bãi tập kết vật liệu cát thuộc Công ty cổ phần Đ1 (Đ, Đ, Quảng Nam; vắng

  1. Lê Thị Tuyết O năm 1986

Nơi thường trú: Thôn C, xã H, H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

  1. Bà Trương Thị B2, sinh năm 1982

Thường trú tại: D N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

  1. Ngân hàng TMCP T6 chi nhánh Đ2, có ông Nguyễn Văn L, nhân viên xử lý nợ đại diện theo uỷ quyền.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn M1 năm 1985

Địa chỉ: Thôn N, Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

  1. Đinh Phú T, sinh năm 1984; có mặt

Địa chỉ: Phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng

Quản lý mỏ Công ty T4

  1. Ông Võ Ngọc T1 – Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ

Địa chỉ: Khu P, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

  1. Ông Phạm Ích K– Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, Quảng Nam; vắng mặt.
  1. Nguyễn T2 T3 sinh năm 1980

Nơi thường trú: K04 N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/11/2023, Công an huyện Đ được đơn tố giác của anh Nguyễn Văn C (sinh năm: 1975, trú thôn P, xã Đ, huyện Đ của Công ty TNHH T6, xã Đ, huyện Đ về việc Đặng Ngọc B3 viên Tạp chí Môi trường và Xã hội nhiều lần gọi điện đến anh Hồ Hoàng P1 (sinh năm: 1986, trú A, quận H, T đốc của Công ty cổ phần T5 với nội dung B đang theo dõi hoạt động của mỏ cát của Công ty và mong muốn Công ty S trao đổi về vấn đề sai phạm. Nghe vậy, anh P2 sợ vì trong quá trình hoạt động mỏ cát của Công ty không tránh khỏi những vi phạm và sợ B4 đưa thông tin sai phạm của Công ty L1 hoạt động của Công ty nên anh P3 anh C1 điện hẹn gặp B. Sau đó, anh C2 thoại hẹn gặp B chiều ngày 29/11/2023 đến tại quán C1 thuộc thôn P, xã Đ, huyện Đ. Nguyễn Văn C3 điểm hẹn tại quán cà phê thì gặp B và Trương Thị B2 (sinh năm 1982, trú tại D N, phường H, quận C,

3

TP .. Tại đây, anh C4 cho B số tiền 9.800.000 đồng, B5 cầm tiền trên tay thì bị Công an huyện Đ quả tang, tạm giữ tang vật có liên quan.

Quá trình điều tra xác định cụ thể như sau: Đặng Ngọc B6 Tạp chí Môi trường và Xã hội ký kết hợp đồng thử việc từ ngày 28/6/2023 đến ngày 31/12/2023. Tại đây, B6 phân công làm công tác tuyên truyền pháp luật, thu thập thông tin mà người dân phản ánh về môi trường và xã hội (theo hợp đồng lao động số 12/2023 và số 05/2023 của T5). Ngày 28/11/2023, B tác nghiệp về môi trường khoáng sản tại vị trí mỏ cát của Công ty TNHH T7, B7 thấy hoạt động khai thác cát của Công ty có dấu hiệu sai phạm ảnh hưởng đến môi trường và an toàn trong khu dân cư nên quay phim, chụp hình lưu lại máy điện thoại của mình. Sau đó, B8 trình bày sai phạm của C2 cho ông Võ Ngọc T1 – Trưởng phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Đ. Khoảng 13h30' ngày 29/11/2023, B9 khiển xe ô tô hiệu Toyota Fortuner biển số 43A-630.25 chở theo chị Trương Thị B10 cầu H, xã Đ kiểm tra xem hoạt động của mỏ cát Công ty TNHH T8 khi đi, B điện thoại cho anh Hồ Hoàng P1 để hẹn nói chuyện nhưng anh P4 nghe máy. Trên đường đi, B tiếp tục gửi tin nhắn cho anh P5 nội dung “E bảo phóng viên B3e gặp a nhé, a sắp xếp e đang theo dõi cty khai thác cát trường lợi của a, e đã gặp a tốt” nhưng anh P4 trả lời. Đến 13h48' cùng ngày, B11 tục gọi điện thoại cho anh P6 hẹn gặp nhưng anh P7 không trả lời. Anh P thấy B12 điện và nhắn tin liên tục nên lo sợ nói anh Nguyễn Văn C5 điện cho B. Đến 15h59' cùng ngày, anh C2 thoại hẹn B đến quán cà phê H3 M3 thuộc thôn P, huyện Đ nói chuyện thì B chở chị Trương Thị B13 đến quán cà phê H3 M3 gặp anh C. Tại đây, trong lúc uống nước thì anh C6 “ngày hết tết đến rồi, anh đừng đăng báo lên làm gì để bọn em kiếm đồng” và lấy tiền số tiền 9.800.000 trong ví ra để trên bàn và B cầm tiền trên tay thì bị lực lượng Công an huyện Đ. Lúc này, B14 sợ nên thả tiền xuống đất, tổ công tác Công an huyện lập biên bản quả tang đối với B kiểm tra số tiền B15 nhận từ anh C7 xuống nền quán là 9.800.000 đồng.

Cùng với phương thức, thủ đoạn như trên, vào tháng 9/2022, Đặng Ngọc B16 Công ty A2 trụ sở tại thôn P, xã Đ, huyện Đ là cộng tác viên Báo bảo vệ pháp luật (trước đó, từ khoảng thời gian từ tháng 7/2022 đến tháng 5/2023, B17 cộng tác viên trong hoạt động tuyên truyền, quảng cáo của B4) nhiều lần sử dụng số điện thoại 0985.729.xxx nhắn tin qua số điện thoại 0979.512.xxx của chị Đỗ Thị B1 (sinh năm: 1972, trú tổ B, xã L, huyện K, thành phố H Phó Giám đốc Công ty A3 tại thôn P, xã Đ, huyện Đ với nhiều nội dung “chúc chị sức khỏe, mong được mời chị ly nước, bông hoa nhỏ nhân dịp 21/6 chị thương tặng e nhé, e chưa thấy chị e cảm ơn chi nhiều...” và gửi số tài khoản 19023586903013 của ngân hàng T9 chị B18 lo sợ B thu thập hình ảnh, thông tin hoạt động của Cty để đăng báo nếu không gửi tiền nên ngày 05/6/2023 chị B1 chuyển cho B số tiền 3.000.000 đồng qua tài khoản trên của B

Ngoài ra, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã phát hiện Đặng Ngọc B19 hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức cụ thể như sau:

4

Ngày 01/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Ngọc B20 số nhà E Đ, phường A, quận H, thành phố Đ hiện và tạm giữ 01 bằng Kỹ sư Cơ khí chế tạo của Trường Đại học B42 Thành phố H và 01 “GIẤY CHỨNG NHẬN” Học viện B43 cấp cho Đặng Ngọc B21 nhiều tài liệu có liên quan. Xét thấy, các văn bằng có dấu hiệu làm giả nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành điều tra, xác minh và trưng cầu giám định có kết luận như sau:

Tại kết luận giám định số:239/KL-KTHS ngày 25/4/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận:

  • - Chữ ký đứng tên PGS.TS Phạm Huy K1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A không phải do người ký chữ ký đứng tên PGS.TS Phạm Huy K1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 ký ra.
  • - Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “HỌC VIỆN C3 VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A không phải do con dấu có hình dấu tròn màu đỏ mang cùng nội dung trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 đóng ra.

Tại kết luận giám định số:197/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận:

  • - Chữ ký đứng tên PGS.TS PHAN THỊ TƯƠI trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên PGS.TS PHAN THỊ TƯƠI trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 không phải do cùng một người ký ra.
  • - Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A không phải do con dấu có hình dấu tròn màu đỏ mang nội dung “TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 đóng ra.

Quá trình điều tra, Đặng Ngọc B22 nhận: năm 1999, B23 tuyển và nhập học vào Khoa cơ khí chế tạo tại Trường Đại học Bách khoa Thành phố H, thời gian học 05 năm. Đến năm 2004, hoàn thành khóa học và thi tốt nghiệp nhưng không đậu. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không tiếp tục việc học để thi lại Tốt nghiệp nên nhờ một người đàn ông (không nhớ họ tên và lai lịch cụ thể) công tác tại Phòng đào tạo của Trường Đại học Bách khoa Thành phố H điều kiện để lấy Bằng tốt nghiệp Đại học và khoảng 06 tháng sau B7 được Bằng kỹ sư cơ khí chế tạo do Trường Đại học Bách khoa Thành phố B42.

Đối với 01 “GIẤY CHỨNG NHẬN” Học viện B43, B đã học lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí từ ngày 25/10/2021 đến ngày 16/3/2022 học bằng hình thức trực tuyến (không nhớ rõ địa chỉ) tại nhà ở quận H, TP Đ thời gian xảy ra dịch Covid, thời gian học từ ngày 14/9/2021 đến tháng 03/2022 thì được giấy chứng nhận qua đường bưu điện.

5

Đến tháng 06/2023, Đặng Ngọc B24 dụng 01 Bằng Kỹ sư và 01 Giấy chứng nhận Học viện B43 để nộp hồ sơ xin việc tại Tạp chí Môi trường và Xã hội và được ký kết hợp đồng với T5 B đã lợi dụng việc đang công tác tại Tạp chí Môi trường và Xã hội, nghiệp vụ báo chí của mình để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.

* Tạm giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật có liên quan:

  • - Tạm giữ Đặng Ngọc B25: 01 bằng Kỹ sư Cơ khí chế tạo số 587CK132, BB 07885/98KH2/2004 do Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố B42 cho Đặng Ngọc B26 (sinh ngày 08/08/1977, tại Đà Nẵng) vào ngày 18/8/2004.
  • - 01 “GIẤY CHỨNG NHẬN” vào sổ số: BD.NVBC.0679; đề nơi cấp: Học viện B43, ngày cấp: ngày 22 tháng 3 năm 2022; cấp cho Đặng Ngọc B27 sinh: 08/8/1977, nơi sinh: Đà Nẵng; đã học lớp: Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí từ ngày 25/10/2021 đến ngày 16/3/2022.
  • - 15 tờ Bảng giá tuyên truyền, quảng cáo đặc biệt 2023; 18 tờ Bảng giá tuyên truyền quản cáo; 50 tờ Biên bản làm việc; 57 tờ Thư ngỏ, trong đó có 02 tờ đã qua sử dụng; 55 bản Hợp đồng đăng tải thông tin tuyên truyền, trong đó có 07 bản Hợp đồng đăng tải thông tin tuyên truyền đã qua sử dụng; 01 Thông báo số 22/TB-TLVA ngày 18/10/2022 của TAND quận Thanh Khê về việc thụ lý vụ án; 01 Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS số 40/2023/QĐST-DS ngày 23/11/2023 của TAND quận Thanh Khê; 14 Thư mời đã qua sử dụng; 13 Thư mời chưa qua sử dụng; 14 Biểu giá giới thiệu thông tin quảng cáo; 10 Hợp đồng tuyên truyền; 04 Bì thư Bảo vệ pháp luật (Trống, loại lớn); 04 Bì thư Bảo vệ pháp luật (Trống, loại nhỏ); 03 Đơn thư phản ánh ô nhiễm môi trường; Hồ sơ tài liệu về Công ty T10 (Gồm 47 tờ); Bài viết phản ánh tình trạng mỏ đất tại Huế (Gồm 04 tờ); Giấy phép khai thác khoáng sản (Bản photo) Công ty L2 (Gồm 04 tờ); Biên bản làm việc (Gồm 03 tờ A4); Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng (Gồm 01 tờ A4); Bản ảnh được in màu trên giấy A4 (Gồm 11 tờ); 01 tập tài liệu liên quan đến khu phố Đ, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (Gồm 26 tờ A4); 01 tập tài liệu liên quan đến xí nghiệp L3 (Gồm 05 tờ A4); 02 Bì thư Tạp chí Môi trường và Xã hội (Bì thư trống).
  • - 02 Giấy chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí của Đặng Ngọc B26 (Bản in màu); 14 Giấy giới thiệu của Tạp chí Môi trường và xã hội; 01 Hợp đồng lao động số 05/2023/HĐLĐ-CTV của T501 Hợp đồng lao động số 12/2023/HĐLĐ-CTV của T501 Giấy biên nhận giữ bản chính biên nhận thế chấp xe ô tô 43A-630.25 (Gồm 02 tờ A4).
  • - 05 tập Kế hoạch thực hiện Chương trình “Cùng em tới trường” năm 2023, mỗi tập gồm 04 tờ; 01 Biên bản làm việc viết tay ngày 15/8/2023 gồm 01 tờ A4; 01 Biên bản làm việc viết tay ngày 19/7/2023; 03 Đơn xin cung cấp thông tin gồm 03 tờ A4; 01 Bản viết tay nội dung vụ việc phản ánh Công ty T8 gồm 01 tờ A4; 06 Bản viết tay gồm 06 tờ A4; 14 Biểu giá thông tin tuyên truyền quảng cáo trên Báo Bảo vệ pháp luật số Tết Quý Mãi – 2023; 13 Hợp đồng truyền thông quảng cáo; 84 Thư mời đăng thông tin tuyên

6

truyền trên Báo Bảo vệ pháp luật; 03 tập tài liệu về thông tin cải tạo công trình chống sạt lở ở H (Gồm 05 tờ A4); Giấy phép khai thác khoáng sản của Công ty T11 (Gồm 03 tờ A4); Công văn của Ban QLDAĐTXD khu vực P (Gồm 04 tờ A4); 05 Biên bản làm việc gồm 05 tờ A4.

  • - 01 bì hồ sơ Nguyễn T2 T3 gồm: 01 sơ yếu lý lịch gồm 03 tờ; 01 đơn xin việc; 01 CCCD (Bản photo của Nguyễn Tiến T.
  • - 01 Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Báo chí; 01 Giấy chứng nhận nhập ngũ; 01 Bằng kỹ sư (Bản chính); 01 Quyết định xuất ngũ (Bản photo); Bản sao Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Báo chí; Bản sao Bằng kỹ sư của Đặng Ngọc B26
  • - 01 USB màu đen bên trong có chứa nội dung ghi âm điện thoại của Đặng Ngọc B28 anh Nguyễn Văn C8 ngày 29/11/2023.

Tất cả các tài liệu trên được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

  • - 55 phong bì tạp chí Môi trường và Xã hội; 10 cuốn tạp chí Môi trường và Xã hội số tháng 8/2023; 01 cuốn tạp chí Bảo vệ pháp luật 07/2022; 01 cuốn tạp chí Bảo vệ pháp luật 4/2023; 04 tờ B4 (Số E−01 tờ; số 51 – 01 tờ; số 52 – 02 tờ); 07 tờ B4 (03 số Chuyên đề 6/2023; 02 số 34; 02 số 06).
  • - 05 cuốn tạp chí Bảp vệ pháp luật; 04 tờ báo Bảo vệ pháp luật.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS, màu vàng, số máy MT8W2LL/A, số seri GONZK7W4KPFR, IMEI 353133101207894, bên trong gắn sim số 0985.729.677; 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe: Ô tô con, màu sơn: Bạc, số loại: Fortuner, BKS: 43A-630.25 số máy 2TRA077254, số khung: RL4ZX69G3G9015850; 01 cặp da màu nâu, 01 sổ tay màu đen; 01 ba lô màu đen, mặt trước có dòng chữ màu trắng EASY TOUR VIETNAM TRAVEL, 01 bao lô màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen có dòng chữ MAZDA, 01 mũ lưỡi trai màu nâu có dòng chữ LACOSTE, 01 bơm xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, 01 cuộn dây kéo bằng vải do B29 chủ sở hữu; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone X, màu trắng, số IMEI 356739084725715, số seri F2LVR9XDJCLL, bên trong gắn thẻ sim số 0909.216.750 của Trương Thị B2 làm chủ sở hữu hiện, tất cả đang tạm giữ tai kho vật chứng Công an huyện Đ
  • - Riêng số tiền ngân hàng N9.800.000 đồng (gồm 49 tờ mệnh giá 200.000 đồng) đã được chuyển vào tài khoản ngân hàng Công an huyện Đ tại K huyện Đ.

* Về dân sự:

bị cáo Đặng Ngọc B30 tác động gia đình trả lại số tiền 3.000.000 đồng cho chị Đỗ Thị B31 B1 không yêu cầu gì thêm.

Quá trình điều tra, bị cáo Đặng Ngọc B26 đã tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

7

Tại cáo trạng số 31/CT-VKSĐL ngày 23/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố bị cáo Đặng Ngọc B về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Đặng Ngọc B26 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo B từ 12 (mười hai ) đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 341; khản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo B từ 06 (sáu ) đến 09 (chín ) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt chung tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” buộc bị Đặng Ngọc B26 phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội nêu trên là từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người người làm chứng khai nhận nội dung vụ án như lời khai của bị cáo, phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình mà đã được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phổ biến về quyền, nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn tố tụng và tự khai báo về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đặng Ngọc B22 nhận như sau.

Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2022 đến ngày 29/11/2023, Đặng Ngọc B32 dụng là cộng tác viên trong hoạt động tuyên truyền, quảng cáo của Báo Bảo vệ pháp luật và cộng tác viên tuyên truyền pháp luật, thu thập thông tin người dân phản ánh của Tạp chí

8

môi trường, xã hội. Trong quá trình đi tác nghiệp, B30 phát hiện có dấu hiệu sai phạm của Công ty cổ phần T5 và Công ty A4 có trụ sở tại xã Đ và xã Đ, huyện Đ nhưng không thực hiện việc báo cáo về Tạp chí môi trường, xã hội và Báo bảo vệ pháp luật mà có hành vi nhắn tin uy hiếp về tinh thần đối với đại diện các Công ty cổ phần T5 và Công ty A4 có trụ sở tại xã Đ và xã Đ, huyện Đ chiếm đoạt tiền của các Công ty, tổng số tiền mà B33 đoạt là 12.800.000 đồng.

Ngoài ra, qua thu thập các chứng chỉ, văn bằng của Đặng Ngọc B34 định B đã sử dụng 01 giấy chứng nhận Học viện B43 và 01 Bằng tốt nghiệp Đại học Trường Đại học Bách khoa Thành phố H để xin vào Tạp chí môi trường và xã hội và B4, trong quá trình tác nghiệp đã thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản trên.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Ngọc B30 phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Đặng Ngọc B35 người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, hiểu biết pháp luật, bị cáo nhận thức được rằng quyền sở hữu đối với tài sản được pháp luật bảo vệ, đó là quyền bất khả xâm phạm. Thế nhưng, với động cơ vụ lợi, mục đích cưỡng đoạt tài sản của người khác mà không phải bỏ công sức lao động, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, đạo đức xã hội. Bị cáo đã có hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” của các bị hại với tổng giá trị tài sản là 12.800.000 đồng và có hành vi Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của cơ quan Nhà nước. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn huyện Đ bất an trong quần chúng nhân dân. Bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một cách nghiêm minh bằng cách áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội, tỏ ra biết ăn năn hối cải gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

[2.3] Về vật chứng: HĐXX cần áp dụng Điều 47, Điều 106 BLTTHS cần tuyên hủy và sung công quỹ Nhà nước các vật chứng sau:

9

  • - Tuyên tịch thu sung công gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS, màu vàng, số máy MT8W2LL/A, số seri GONZK7W4KPFR, IMEI 353133101207894, bên trong gắn sim số 0985.729.677 mà bị cáo sử dụng để phạm tội.
  • - Tuyên trả lại cho đại diện theo pháp luật của C2 số tiền ngân hàng 9.800.000 đồng đã được chuyển vào tài khoản ngân hàng Công an huyện Đ tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ (hiện đã gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Đ vào tài khoản số 39410.1053629 của Công an huyện Đ 03/01/2024);
  • - Tuyên trả lại cho bị cáo B01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe: Ô tô con, màu sơn: Bạc, số loại: Fortuner, BKS: 43A-630.25 số máy 2TRA077254, số khung: RL4ZX69G3G9015850 (hiện đang được thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần T, theo số hợp đồng LN2302168379590); 01 Giấy chứng nhận nhập ngũ; 55 phong bì tạp chí Môi trường và Xã hội; 10 cuốn tạp chí Môi trường và Xã hội số tháng 8/2023; 01 cuốn tạp chí Bảo vệ pháp luật 07/2022; 01 cuốn tạp chí Bảo vệ pháp luật 4/2023; 04 tờ B4 (Số E−01 tờ; số 51 – 01 tờ; số 52 – 02 tờ); 07 tờ B4 (03 số Chuyên đề 6/2023; 02 số 34; 02 số 06); 05 cuốn tạp chí Bảp vệ pháp luật; 04 tờ báo Bảo vệ pháp luật; 01 cặp da màu nâu, 01 sổ tay màu đen; 01 ba lô màu đen, mặt trước có dòng chữ màu trắng EASY TOUR VIETNAM TRAVEL, 01 bao lô màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen có dòng chữ MAZDA, 01 mũ lưỡi trai màu nâu có dòng chữ LACOSTE, 01 bơm xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, 01 cuộn dây kéo bằng vải đang tạm giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ
  • - Tuyên trả lại cho Trương Thị B36 điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone X, màu trắng, số IMEI 356739084725715, số seri F2LVR9XDJCLL, bên trong gắn thẻ sim số 0909.216.750.
  • - Tiếp tục tạm giữ tại hồ sơ vụ án gồm: 01 USB màu đen bên trong có chứa nội dung ghi âm điện thoại của Đặng Ngọc B28 anh Nguyễn Văn C8 ngày 29/11/2023; 01 Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Báo chí; 01 Bằng kỹ sư (Bản chính); Bản sao Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Báo chí; Bản sao Bằng kỹ sư của Đặng Ngọc B37 bằng Kỹ sư Cơ khí chế tạo số 587CK132, BB 07885/98KH2/2004 do Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố B42 cho Đặng Ngọc B26 (sinh ngày 08/08/1977, tại Đà Nẵng) vào ngày 18/8/2004; 01 “GIẤY CHỨNG NHẬN” vào sổ số: BD.NVBC.0679; đề nơi cấp: Học viện B43, ngày cấp: ngày 22 tháng 3 năm 2022; cấp cho Đặng Ngọc B27 sinh: 08/8/1977, nơi sinh: Đà Nẵng; đã học lớp: Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí từ ngày 25/10/2021 đến ngày 16/3/2022; 01 bì hồ sơ Nguyễn T2 T3 gồm: 01 sơ yếu lý lịch gồm 03 tờ; 01 đơn xin việc; 01 CCCD (Bản photo của Nguyễn Tiến T3;
  • * Về dân sự:
  • bị can Đặng Ngọc B30 tác động gia đình trả lại số tiền 3.000.000 đồng cho chị Đỗ Thị B31 B1 không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

10

  • * Các vấn đề khác:
  • Đối với Trương Thị B2 quá trình điều tra xác định ngày 29/11/2023, B2 đi chơi cùng với Đặng Ngọc B38 biết được hành vi chiếm đoạt tài sản của B nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.
  • [4] Về án phí: Bị cáo Đặng Ngọc B39 chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Tuyên bố:
  • Bị cáo Đặng Ngọc B40 tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Ngọc B41 (mười hai) tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Ngọc B26 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt chung tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” buộc bị cáo Đặng Ngọc B39 chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội nêu trên là 21 (hai mươi mốt) tháng tù.
  • Thời gian chấp hành án phạt tù: Tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/11/2023.
  • * Về xử lý vật chứng:
  • HĐXX cần áp dụng Điều 47, Điều 106 BLTTHS tuyên:
  • - Tịch thu sung công gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS, màu vàng, số máy MT8W2LL/A, số seri GONZK7W4KPFR, IMEI 353133101207894, bên trong gắn sim số 0985.729.677 mà bị cáo sử dụng để phạm tội.
  • - Trả lại cho đại diện theo pháp luật của C2 số tiền ngân hàng 9.800.000 đồng đã được chuyển vào tài khoản ngân hàng Công an huyện Đ tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ (hiện đã gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Đ vào tài khoản số 39410.1053629 của Công an huyện Đ ngày 03/01/2024).
  • - Trả lại cho bị cáo B01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe: Ô tô con, màu sơn: Bạc, số loại: Fortuner, BKS: 43A-630.25 số máy 2TRA077254, số khung: RL4ZX69G3G9015850 (hiện đang được thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần T, theo số hợp đồng LN2302168379590); 01 Giấy chứng nhận nhập ngũ; 55 phong bì tạp chí Môi trường và Xã hội; 10 cuốn tạp chí Môi trường và Xã hội số tháng 8/2023; 01 cuốn tạp chí Bảo vệ pháp luật 07/2022; 01 cuốn tạp chí Bảo vệ pháp luật 4/2023; 04 tờ B4 (Số E– 01 tờ; số 51 – 01 tờ; số 52 – 02 tờ); 07 tờ B4 (03 số Chuyên đề 6/2023; 02 số 34; 02 số 06); 05 cuốn tạp chí

11

Bảp vệ pháp luật; 04 tờ báo Bảo vệ pháp luật; 01 cặp da màu nâu, 01 sổ tay màu đen; 01 ba lô màu đen, mặt trước có dòng chữ màu trắng EASY TOUR VIETNAM TRAVEL, 01 bao lô màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen có dòng chữ MAZDA, 01 mũ lưỡi trai màu nâu có dòng chữ LACOSTE, 01 bơm xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, 01 cuộn dây kéo bằng vải đang tạm giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ

  • - Trả lại cho Trương Thị B36 điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone X, màu trắng, số IMEI 356739084725715, số seri F2LVR9XDJCLL, bên trong gắn thẻ sim số 0909.216.750.
  • - Tiếp tục tạm giữ tại hồ sơ vụ án gồm: 01 USB màu đen bên trong có chứa nội dung ghi âm điện thoại của Đặng Ngọc B28 anh Nguyễn Văn C8 ngày 29/11/2023; 01 Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Báo chí; 01 Bằng kỹ sư (Bản chính); Bản sao Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Báo chí; Bản sao Bằng kỹ sư của Đặng Ngọc B37 bằng Kỹ sư Cơ khí chế tạo số 587CK132, BB 07885/98KH2/2004 do Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố B42 cho Đặng Ngọc B26 (sinh ngày 08/08/1977, tại Đà Nẵng) vào ngày 18/8/2004; 01 “GIẤY CHỨNG NHẬN” vào sổ số: BD.NVBC.0679; đề nơi cấp: Học viện B43, ngày cấp: ngày 22 tháng 3 năm 2022; cấp cho Đặng Ngọc B27 sinh: 08/8/1977, nơi sinh: Đà Nẵng; đã học lớp: Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí từ ngày 25/10/2021 đến ngày 16/3/2022; 01 bì hồ sơ Nguyễn T2 T3 gồm: 01 sơ yếu lý lịch gồm 03 tờ; 01 đơn xin việc; 01 CCCD (Bản photo của Nguyễn Tiến T.
  • * Về án phí:
  • Buộc bị cáo Đặng Ngọc B26 phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • * Về quyền kháng cáo:
  • Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh QN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh QN;
  • - VKSND huyện Đại Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Đ
  • - Bị cáo, những người TGTT khác;
  • - Vụ GĐKT1-TANDTC
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Phượng

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM về cưỡng đoạt tài sản; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 40/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DANG NGOC BAO
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger