|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 40/HNGĐ-ST
Ngày: 12/11/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Luận
2. Ông Phạm Kim Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Huy Hiệp - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Đức Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 134/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 08 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1997; địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: anh Lê Anh T, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa: chị N, anh T vắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Anh T tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn; đăng ký kết hôn vào ngày 13/04/2023 tại UBND phường V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (nay là xã V, thành phố Cần Thơ). Thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, hai người không có tiếng nói chung và phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Tôi đã nhiều lần tìm cách khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau và đã nhiều lần hàn gắn tính cảm nhưng không thành. Nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, đời sống chung không kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lê Anh T.
Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Trần Như T1, sinh ngày 14/8/2022, hiện đang sinh sống cùng tôi tại Ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ. Khi ly hôn tôi đề nghị được trực tiếp nuôi cháu và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng anh T không đến làm việc và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình có quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định;
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại. Bị đơn không đến Tòa án làm việc là không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị áp dụng Điều 56; 57; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 điều 39; Điều 147, Điều 228 BLTTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, đề nghị HĐXX xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ N.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Mỹ N được ly hôn với anh Lê Anh T.
Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Mỹ N được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lê Trần Như Tiên S ngày sinh ngày 14/8/2022 đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản; các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí ly hôn: Chị Trần Thị Mỹ N phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng, được trừ 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 1- Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000232 ngày 31/7/2025.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Quan hệ pháp luật và thẩm quyền quyền giải quyết vụ án: vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; bị đơn anh Lê Anh T đăng ký hộ khẩu tại Phố T, phường N (nay là phường H, tỉnh Ninh Bình); do đó, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung:
- Về hôn nhân: chị Trần Thị Mỹ N và anh Lê Anh T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 13/04/2023 tại UBND phường V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (nay là xã V, thành phố Cần Thơ), đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
- Về yêu cầu khởi kiện:
+ Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, hai người không có tiếng nói chung và phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện chị N và anh T đã ly thân từ lâu, chị N đã cùng con về nhà bố mẹ đẻ tại Cần Thơ để sinh sống, không ai quan tâm đến ai nữa. Việc anh T biết được việc chị N yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn với mình nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu của chị N cho thấy anh T cũng không có thiện chí và nhu cầu hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Như vậy, có thể khẳng định tình cảm vợ chồng giữa hai người không còn, quan hệ hôn nhân chỉ là hình thức, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với thực trạng diễn biến quan hệ hôn nhân giữa chị N với anh T và phù hợp với pháp luật được quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
+ Về con chung: chị N và anh T có 01 con chung là cháu Lê Trần Như T1, sinh ngày 14/8/2022. Khi ly hôn chị N đề nghị được nuôi cháu T1. Anh T không có ý kiến gì về việc nuôi con chung. Do vậy để đảm bảo môi trường sinh hoạt, học tập, phát triển ổn định cho cháu T1, chị N cũng đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con chung, nên cần giao cháu T1 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Anh T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở và quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị N không đề nghị anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy đề nghị của chị N là tự nguyện, không trái quy định. Do vậy anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản, công nợ chung: chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung không yêu cầu giải quyết, quá trình Tòa án giải quyết anh T không có ý kiến gì về tài sản, công nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: chị Trần Thị Mỹ N phải chịu án phí đối với vụ án Hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ N đối với anh Lê Anh T.
1. Về hôn nhân: cho chị Trần Thị Mỹ N ly hôn anh Lê Anh T (quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).
2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Mỹ N được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lê Trần Như T1, sinh ngày 14/8/2022 đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị N trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Anh T không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.
Khi cần các bên có quyền thay đổi việc nuôi con, yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và công nợ chung: không xem xét, giải quyết.
4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Trần Thị Mỹ N phải chịu 300.000đ. Được trừ vào số tiền tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000232 ngày 31/7/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Ninh Bình.
5. Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi gửi:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Ngọc Bình |
Bản án số 40/HNGĐ-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 40/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Mỹ N xin ly hôn và tranh chấp niooi con với a Lê Anh T
