|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số : 40/2025/HSST Ngày : 26/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Quang Cảnh;
2/ Bà Võ Kim Hường;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Lê Minh Hoàng là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1989 tại thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: Căn hộ 15.03 tháp RS1, khu A, chung cư khu thương mại dịch vụ và căn hộ S Hòa Bình, khu phố A, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Căn hộ A tháp RS1, khu A, chung cư khu thương mại dịch vụ và căn hộ S Hòa Bình, khu phố A, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; Con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1962 và bà Lưu Thị T, sinh năm 1963; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/12/2024;
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thiên Bạch P, sinh năm 1964, địa chỉ: A B, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1975, địa chỉ: H T, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1994, địa chỉ: 3 đường A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Ông Trần Ngọc T1, sinh năm 1970, địa chỉ: 4 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Trần Thị Ái L1, sinh năm 1969, địa chỉ: 3 C, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Ông Vũ Anh T2, sinh năm 1990, địa chỉ: I K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
(những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua công tác quản lý địa bàn, Đ Công an quận T phát hiện Nguyễn Văn H có biểu hiện nghi vấn hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên ngày 14/12/2024, đã tiến hành kiểm tra hành chính tại căn hộ A, Chung cư R, địa chỉ: B Hòa Bình, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh của H và mời H làm việc. Qua làm việc, Nguyễn Văn H khai nhận:
Khoảng đầu tháng 01/2024, H bắt đầu hoạt động cho vay lãi nặng bằng hình thức cho vay tiền góp (góp theo ngày) với lãi suất từ 12% đến 36%/tháng (tức là từ 144% đến 432%/năm, gấp khoảng từ 07 lần đến 21 lần so với lãi suất cho phép) và cho vay tiền đứng lãi suất từ 18% đến 36%/tháng (tức là từ 216% đến 432%/năm, gấp khoảng từ 10 lần đến 21 lần so với lãi suất cho phép) với số vốn ban đầu là 200.000.000 đồng và H tìm kiếm khách vay bằng cách đi đến các quán vỉa hè trên các tuyến đường thông báo cho những người xung quanh là H cho vay tiền, nếu ai giới thiệu thì H sẽ gửi phí hoa hồng khoảng 10% số tiền khách vay. H sử dụng tài khoản Ngân hàng T3 số 19036348468011 tên NGUYEN VAN HUYNH của H và số 19032445824011 tên NGUYEN THI THU LE của Nguyễn Thị Thu L2 (tài khoản vợ của H) để chuyển tiền và nhận tiền trả gốc, lãi vay của các khách vay.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã mời làm việc được 06 khách vay của H, cụ thể:
1. Trần Thiên Bạch P (sinh năm 1964; nơi cư trú: A B, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: A B, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) vay 02 lần:
Lần 01: Ngày 19/6/2024, P vay góp số tiền 200.000.000 đồng, thời gian vay 30 ngày, phí hoa hồng 20.000.000 đồng, tiền lãi 01 tháng là 40.000.000 đồng, lãi suất kỳ vay là 20%/tháng (tức 240%/năm, gấp 12 lần lãi suất cho phép). H sử dụng tài khoản Ngân hàng T3 số 19036348468011 tên NGUYEN VAN HUYNH chuyển vào tài khoản Ngân hàng T3 số 11920548953018 tên TRAN THIEN BACH PHUNG của P số tiền 124.000.000 đồng, do trừ trước tiền phí hoa hồng 20.000.000 đồng, lãi vay 01 tháng 40.000.000 đồng và tiền gốc trả trước 16.000.000 đồng. H thu lợi bất chính 56.666.667 đồng.
Lần 02: Đến ngày 19/7/2024, P chưa trả hết số tiền 200.000.000 đồng nên H yêu cầu trả lãi 2.000.000 đồng/ngày (tức lãi suất 1%/ngày = 30%/tháng = 360%/năm, gấp 18 lần lãi suất cho phép). Đến ngày 31/7/2024, P đã đóng tiền lãi được 13 ngày với số tiền 26.000.000 đồng và xin trả chậm tiền gốc, H thu lợi bất chính 24.555.556 đồng.
Từ ngày 01/8/2024 đến nay, P đã trả tiếp tiền gốc là 150.000.000 đồng cho H và H không thu tiền lãi.
Tổng số tiền thu lợi bất chính là 81.222.223 đồng.
2. Nguyễn Thị Ngọc H2 (sinh năm 1975; nơi cư trú: xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: H T, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh) vay 02 lần:
Lần 01: Ngày 01/11/2024, H2 vay góp số tiền 50.000.000 đồng, thời gian vay 25 ngày, phí hồ sơ 6% là 3.000.000 đồng, đóng tiền gốc và lãi là 2.500.000 đồng/ngày, lãi suất kỳ vay là 30%/tháng (tức 360%/năm, gấp 18 lần lãi suất cho phép). H đưa tiền mặt cho H2 số tiền 34.500.000 đồng, do trừ trước tiền phí hồ sơ 3.000.000 đồng và thu tiền góp trước 05 ngày với số tiền 12.500.000 đồng. H2 đã trả hết tiền gốc và lãi, phí hồ sơ với số tiền 65.500.000 đồng, H thu lợi bất chính 14.805.556 đồng.
Lần 02: Ngày 12/11/2024, H2 vay đứng số tiền 70.000.000 đồng, phí hồ sơ 5.000.000 đồng, tiền lãi 1.400.000 đồng/ngày (tức lãi suất 02%/ngày = 60%/tháng = 720%/năm, gấp 36 lần lãi suất cho phép). H đưa tiền mặt cho H2 số tiền 51.000.000 đồng, do trừ trước phí hồ sơ 5.000.000 đồng và thu tiền lãi 10 ngày với số tiền 14.000.000 đồng. H2 đóng lãi được thêm 03 ngày với số tiền 5.200.000 đồng thì trả hết số tiền gốc, H thu lợi bất chính 22.694.444 đồng.
Tổng số tiền thu lợi bất chính là 37.500.000 đồng.
3. Nguyễn Thị L (sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở: 3 đường A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) vay 05 lần:
Lần 01: Ngày 10/10/2024, L vay góp số tiền 20.000.000 đồng, thời gian vay 21 ngày, phí hoa hồng là 1.400.000 đồng, đóng tiền gốc và lãi là 1.200.000 đồng/ngày, lãi suất kỳ vay là 37%/tháng (tức 444%/năm, gấp 22,2 lần lãi suất cho phép). H sử dụng tài khoản Ngân hàng T3 số 19036348468011 tên NGUYEN VAN HUYNH chuyển vào tài khoản Ngân hàng Q số 9704229295210830 tên NGUYEN THI LIEN của L số tiền 15.000.000 đồng, do trước trước tiền phí hoa hồng 1.400.000 đồng và thu tiền gốc lãi 03 ngày với số tiền 3.600.000 đồng. Đến ngày 17/10/2024, L trả tiền gốc và lãi được 10 ngày với số tiền 12.000.000 đồng và vay lần mới rồi trả hết tiền gốc và lãi vay còn lại, H thu lợi bất chính 6.366.667 đồng.
Lần 02: Ngày 17/10/2024, L vay góp số tiền 20.000.000 đồng, thời gian vay 21 ngày, phí hoa hồng là 1.000.000 đồng, đóng tiền gốc và lãi là 1.200.000 đồng/ngày, lãi suất kỳ vay là 37%/tháng (tức 444%/năm, gấp 22,2 lần lãi suất cho phép). H sử dụng tài khoản của Huỳnh chuyển vào tài khoản của L số tiền 3.400.000 đồng, do trừ trước tiền phí hoa hồng 1.000.000 đồng, thu tiền gốc và lãi 02 ngày với số tiền 2.400.000 đồng và trả tiền gốc lãi lần vay 01 với số tiền 13.200.000 đồng. Đến 25/10/2024, L trả tiền gốc và lãi được 11 ngày với số tiền 13.200.000 đồng và vay lần mới rồi trả hết tiền gốc và lãi vay còn lại, H thu lợi bất chính 5.966.667 đồng.
Lần 03: Ngày 25/10/2024, L vay góp số tiền 20.000.000 đồng, thời gian vay 21 ngày, phí hoa hồng là 1.000.000 đồng, đóng tiền gốc và lãi là 1.200.000 đồng/ngày, lãi suất kỳ vay là 37%/tháng (tức 444%/năm, gấp 22,2 lần lãi suất cho phép). H sử dụng tài khoản của Huỳnh chuyển vào tài khoản của L số tiền 3.400.000 đồng, do trừ trước tiền phí hoa hồng 1.000.000 đồng, thu tiền gốc và lãi 03 ngày với số tiền 3.600.000 đồng và trả tiền gốc lãi lần vay 02 với số tiền 12.000.000 đồng. Đến 01/11/2024, L trả tiền gốc và lãi được 10 ngày với số tiền 12.000.000 đồng và vay lần mới rồi trả hết tiền gốc và lãi vay còn lại, H thu lợi bất chính 5.966.667 đồng.
Lần 04: Ngày 01/11/2024, L vay góp số tiền 20.000.000 đồng, thời gian vay 21 ngày, phí hoa hồng là 500.000 đồng, đóng tiền gốc và lãi là 1.200.000 đồng/ngày, lãi suất kỳ vay là 37%/tháng (tức 444%/năm, gấp 22,2 lần lãi suất cho phép). H sử dụng tài khoản của Huỳnh chuyển vào tài khoản của L số tiền 2.700.000 đồng, do trừ trước tiền phí hoa hồng 500.000 đồng, thu tiền gốc và lãi 03 ngày với số tiền 3.600.000 đồng và trả tiền gốc lãi lần vay 03 với số tiền 13.200.000 đồng. Đến ngày 04/11/2024, L trả tiền gốc và lãi được 06 ngày với số tiền 7.200.000 đồng và vay lần mới rồi trả hết tiền gốc và lãi vay còn lại, H thu lợi bất chính 5.466.667 đồng.
Lần 05: Ngày 05/11/2024, L vay đứng số tiền 20.000.000 đồng, tiền lãi 300.000 đồng/ngày (tức lãi suất 1,5%/ngày = 45%/tháng = 540%/năm, gấp 27 lần lãi suất cho phép). Huỳnh không đưa tiền cho L do đã trừ hết vào tiền gốc và lãi lần vay 04. L đã đóng tiền lãi được 39 ngày với số tiền 11.700.000 đồng và chưa trả tiền gốc, H thu lợi bất chính 11.266.667 đồng.
Tổng số tiền thu lợi bất chính là 35.033.335 đồng.
4. Trần Ngọc T1 (sinh năm 1970; nơi cư trú: 21 đường C P, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 4 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) vay 02 lần:
Lần 01: Ngày 14/10/2024, T1 vay đứng số tiền 50.000.000 đồng, phí hồ sơ 1.500.000 đồng, tiền lãi 750.000 đồng/ngày (tức lãi suất 1,5%/ngày = 45%/tháng = 540%/năm, gấp 27 lần lãi suất cho phép). H sử dụng tài khoản Ngân hàng T3 số 19032445824011 tên NGUYEN THI THU LE của L2 (vợ của H) chuyển đến tài khoản Ngân hàng V số 28171234 tên TRAN NGOC THANH của T1 số tiền 42.500.000 đồng, do trừ trước phí hồ sơ 1.500.000 đồng và thu lãi gốc 08 ngày với số tiền 6.000.000 đồng. Ngày 21/10/2024, T1 đã đóng tiền lãi 08 ngày và trả hết tiền gốc, H thu lợi bất chính 7.277.778 đồng.
Lần 02: Ngày 30/10/2024, T1 vay đứng số tiền 90.000.000 đồng, phí hồ sơ 2.700.000 đồng, tiền lãi 1.350.000 đồng/ngày (tức lãi suất 1,5%/ngày = 45%/tháng = 540%/năm, gấp 27 lần lãi suất cho phép). H sử dụng tài khoản ngân hàng của Huỳnh C đến tài khoản ngân hàng của T1 số tiền 73.800.000 đồng, do trừ trước phí hồ sơ 2.700.000 đồng và thu lãi gốc 10 ngày với số tiền 13.500.000 đồng. Ngày 16/12/2024, T1 đã đóng tiền lãi 47 ngày với số tiền 63.450.000 đồng và chưa trả tiền gốc, H thu lợi bất chính 63.800.000 đồng.
Tổng số tiền thu lợi bất chính là 71.077.778 đồng.
5. Trần Thị Ái L1 (sinh năm 1969; nơi cư trú: 3 C, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 3 C, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh) vay 01 lần:
Ngày 19/6/2024, L1 vay góp số tiền 100.000.000 đồng, thời gian vay 30 ngày, phí hồ sơ là 1.000.000 đồng, đóng tiền gốc và lãi là 4.000.000 đồng/ngày, lãi suất kỳ vay là 20%/tháng (tức 240%/năm, gấp 12 lần lãi suất cho phép). H sử dụng tài khoản của Huỳnh chuyển vào tài khoản Ngân hàng S số [...] tên TRAN THI AI LOAN của L1 số tiền 87.000.000 đồng, do trừ trước tiền phí hồ sơ 1.000.000 đồng, thu tiền gốc và lãi 03 ngày với số tiền 12.000.000 đồng. Đến nay, L1 đã trả hết tiền gốc và lãi với số tiền 120.000.000 đồng, H thu lợi bất chính 19.333.333 đồng.
Tổng số tiền thu lợi bất chính là 19.333.333 đồng.
6. Vũ Anh T2 (sinh năm 1990; nơi cư trú: 09.15 Block A T, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: I K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) vay 01 lần:
Ngày 30/9/2024, T2 vay đứng số tiền 500.000.000 đồng, phí hồ sơ 25.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng/ngày (tức lãi suất 0,8%/ngày = 24%/tháng = 288%/năm, gấp 14,4 lần lãi suất cho phép). H sử dụng tài khoản ngân hàng của Huỳnh chuyển đến tài khoản ngân hàng E số 0975822893 tên VU ANH TUAN của T2 số tiền 435.000.000 đồng, do trừ trước phí hồ sơ 25.000.000 đồng và thu tiền lãi 10 ngày với số tiền 40.000.000 đồng. T2 trả tiền lãi thêm được 15 ngày với số tiền 60.000.000 đồng thì xin trả chậm tiền gốc, không trả lãi do kinh doanh thua lỗ, H đồng ý. Đến nay, T2 đã trả tiền gốc cho H là 148.000.000 đồng, H thu lợi bất chính 118.055.556 đồng.
Tổng số tiền mà Nguyễn Văn H thu lợi bất chính từ việc cho vay đối với 05 khách vay trên là 362.222.222 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
* Vật chứng thu giữ:
- - Một (01) điện thoại di động Iphone, số Imei: 353369282340043, điện thoại của H sử dụng để liên lạc với khách vay.
- - Số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 40.000.000 đồng do bị cáo H giao nộp.
Các vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 61 ngày 13/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T (bút lục số 15a)
* Về dân sự: Bà Trần Thiên Bạch P, chị Nguyễn Thị Ngọc H2, chị Nguyễn Thị L, anh Trần Ngọc T1, chị Trần Thị Ái L1, anh Vũ Anh T2 tự nguyện giao dịch vay tiền với Nguyễn Văn H và hiện H đã bị xử lý theo pháp luật nên không yêu cầu hoàn trả lại số tiền lãi thu lợi bất chính (các bút lục số 16, 43, 62, 138, 180).
Tại phiên tòa, Nguyễn Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận như bản cáo trạng đã nêu.
Bản cáo trạng số 47/CT-VKSQTP ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cũng như xem xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng Khoản 2 Điều 201; Điều 35; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H số tiền từ 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng đến 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn H nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một mức án nhẹ để có cơ hội sửa sai và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với Bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 6/2024 đến ngày 14/12/2024, tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn H đã có hành vi cho bà Trần Thiên Bạch P, chị Nguyễn Thị Ngọc H2, chị Nguyễn Thị L, anh Trần Ngọc T1, chị Trần Thị Ái L1, anh Vũ Anh T2 vay tiền với lãi suất từ 240%/năm đến 720%/năm, cao gấp 12 lần đến 36 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm), với tổng số tiền thu lợi bất chính là 362.222.222 (ba trăm sáu mươi hai triệu hai trăm hai mươi hai ngàn hai trăm hai mươi hai) đồng thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo còn mang tính chất bóc lột làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, ngoài ra hành vi phạm tội của bị cáo còn có khả năng làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự cũng như sức khỏe của những người vay tiền và gia đình của họ. Mặc dù bản thân bị cáo biết việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do mục đích thu lợi bất chính, do tư lợi cá nhân mà bị cáo xem thường pháp luật, bản thân bị cáo đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực pháp luật thay vì phải biết sống đặt mình vào khuôn khổ của pháp luật nhưng bị cáo lại chọn việc vi phạm pháp luật, đây là lỗi cố ý trong ý thức phạm tội của bị cáo. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Thiết nghĩ cần có mức hình phạt tương xứng để giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Đối với Nguyễn Thị Thu L2 (vợ của Nguyễn Văn H) cho Huỳnh mượn tài khoản ngân hàng sử dụng để chuyển tiền do H nói tài khoản của H không còn đủ tiền và L2 không biết H cho vay lãi nặng và không tham gia cho vay tiền cùng H nên Cơ quan điều tra không xử lý Nguyễn Thị Thu L2 về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, với vai trò đồng phạm, là có cơ sở.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra đã nộp một phần số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, đã bị tạm giam một thời gian nhất định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) do đó không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo một số tiền nhất định cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo không tiếp tục phạm tội đồng thời cũng tạo điều kiện cho bị cáo có thể hòa nhập với xã hội, trở thành một công dân có ích đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.
Do bị cáo hiện đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự để trả tự do cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tuy nhiên trong quá trình điều tra những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có bất cứ yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không có gì phải giải quyết;
[6] Về biện pháp tư pháp:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định: Tổng số tiền gốc cho vay là 648.000.000 (sáu trăm bốn mươi tám triệu) đồng; Số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 18.527.778 đồng; Tổng số tiền thu lợi bất chính là: 362.222.222 đồng (trong đó số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 300.122.222 đồng, phí hồ sơ là 62.100.000 đồng), Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Đối với số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 18.527.778 đồng, tiền gốc cho vay là 648.000.000 đồng và phí hồ sơ là 62.100.000 đồng là các khoản tiền sử dụng vào việc phạm tội và các khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;
Đối với số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo thu được từ việc cho vay lãi nặng, theo quy định tại Đoạn 2 Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì: “Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”. Do đó, khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm là khoản tiền thu lợi bất chính của những người vay. Toàn bộ người vay đều khai nhận mục đích vay tiền của H để sử dụng vào việc đầu tư kinh doanh và chi tiêu sinh hoạt cá nhân, ngoài ra không sử dụng tiền vay vào mục đích vi phạm pháp luật nên theo quy địnhtại Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cần buộc bị cáo phải trả lại số tiền đã thu cho toàn bộ những người vay tiền;
Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa trả tiền gốc cho bị cáo Huỳnh B những người này phải nộp số tiền nợ gốc đã vay chưa trả để sung vào Ngân sách nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với một (01) điện thoại di động Iphone, số Imei: 353369282340043 bị cáo sử dụng để liên lạc cho vay lãi nặng nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Đối với số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng do bị cáo H giao nộp, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng 61 ngày 13/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
[7] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại Khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
- - Đối với án phí dân sự sơ thẩm: trong vụ án này không có người bị hại, những người mà bị cáo cho vay được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, việc tuyên trả số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cho phép cho những người vay và việc tuyên buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp lại số tiền gốc chưa trả hết cho bị cáo chỉ là trả lại phần tài sản do bị cáo đã thu lợi bất chính và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được hưởng lợi mà không được xác định là bồi thường thiệt hại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì đây chỉ là biện pháp tư pháp được áp dụng với người phạm tội. Theo quy định tại Điều 21 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự được xác định trong trường hợp Tòa án giải quyết cả phần dân sự trong vụ án hình sự. Do đó, các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
* Áp dụng Khoản 2 Điều 201; Điều 35; Điều 50; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng.
Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác;
* Áp dụng Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước một (01) điện thoại di động Iphone, số Imei: 353369282340043;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng 61 ngày 13/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
* Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp lại số tiền 728.627.778 (bảy trăm hai mươi tám triệu sáu trăm hai mươi bảy ngàn bảy trăm bảy mươi tám) đồng (trong đó 648.000.000 đồng là số tiền gốc cho vay; 18.527.778 đồng là tiền lãi theo lãi suất cho phép; 62.100.000 đồng là tiền phí hồ sơ);
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp lại số tiền thu lãi vượt quá lãi suất cho phép là 300.122.222 (ba trăm triệu một trăm hai mươi hai ngàn hai trăm hai mươi hai) đồng trong đó bao gồm số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng bị cáo đã nộp trong quá trình điều tra theo Phiếu nhập kho vật chứng 61 ngày 13/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh), bị cáo còn phải nộp số tiền 260.122.222 (hai trăm sáu mươi triệu một trăm hai mươi hai ngàn hai trăm hai mươi hai) đồng để trả cho những người vay tiền, cụ thể như sau:
- + Trả cho bà Trần Thiên Bạch P số tiền 61.222.222 đồng;
- + Trả cho chị Nguyễn Thị Ngọc H2 số tiền 29.500.000 đồng;
- + Trả cho chị Nguyễn Thị L số tiền 31.333.333 đồng;
- + Trả cho anh Trần Ngọc T1 số tiền 66.877.778 đồng;
- + Trả cho chị Trần Thị Ái L1 số tiền 18.333.333 đồng;
- + Trả cho anh Vũ Anh T2 số tiền 93.055.556 đồng;
- Đối với số tiền những người vay chưa trả hết tiền gốc cho bị cáo H thì buộc những người này nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước, cụ thể:
- + Buộc chị Nguyễn Thị L nộp lại số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
- + Buộc chị Trần Thiên Bạch P nộp lại số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
- + Buộc anh Trần Ngọc T1 nộp lại số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
- + Buộc anh Vũ Anh T2 nộp lại số tiền 352.000.000 (ba trăm năm mươi hai triệu) đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm;
Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
Bản án số 40/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 40/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
