|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 28-5-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời
Ông Nguyễn Kim Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thái Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn K
(Tên gọi khác: không), sinh năm 1997, tại tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Xóm A, thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị H; gia đình có hai anh em, bị cáo là con đầu; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
* Bị hại: Chị Trần Thị Kim P, sinh năm 1992; địa chỉ: Số C M, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 16/01/2025, Phạm Văn K (là công nhân của Công ty TNHH B, đường V, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng), đang làm việc tại Công ty TNHH B. K đi ngang qua phòng nghỉ trưa của nữ thì K phát hiện 01 túi xách của chị Trần Thị Kim P (sinh năm 1992; trú: số C M, phường T, quận S) đang treo trên tường, trong túi xách có 01 chùm chìa khóa lòi ra ngoài. Lúc này, trong phòng không có người nên K đi vào phòng, thò tay lấy chùm chìa khóa thì phát hiện trong chùm chìa khóa có chìa khóa xe mô tô nên K nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe mô tô này. K lấy chìa khóa xe mô tô mang xuống nhà xe của công ty rồi bấm nút tìm xe thì xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, BKS 76B1-495.33 của chị Trần Thị Kim P phát sáng đèn. K lén lút lấy xe này rồi chạy về nhà ở xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, chị P phát hiện mất xe nên trình báo với công an phường T, quận S. Ngày 17/01/2025, Công an phường T đã liên hệ, triệu tập K lên trụ sở làm việc, tại đây, K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp lại tài sản đã trộm cắp.
Vật chứng tạm giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, BKS 76B1 - 495.33, số khung 5837KY019356, số máy: JF86B2083782 (đã trao trả cho chị Trần Thị Kim P);
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐGTS ngày 10/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự quận S xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, BKS 76B1 - 495.33, số khung: 5837KY019356; số máy: JF86B2083782 có giá trị 21.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Kim P đã nhận lại tài sản, ngoài ra Phạm Văn K đã tự nguyện bồi thường cho chị P số tiền 2.000.000 đồng, chị P đã nhận tiền và có đơn xin bãi nại, đề nghị không xử lý hình sự đối với K.
Bản cáo trạng số 36/CT-VKS-ST ngày 16/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà truy tố bị cáo Phạm Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng: Chị Trần Thị Kim P đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, BKS 76B1 - 495.33, số khung 5837KY019356, số máy: JF86B2083782 và không có yêu cầu gì nên không đề cập giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Kim P đã nhận lại tài sản, ngoài ra Phạm Văn K đã tự nguyện bồi thường cho chị P số tiền 2.000.000 đồng, chị P đã nhận tiền và có đơn xin bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng 09 giờ ngày 16/01/2025, Phạm Văn K lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, BKS 76B-495.33 của chị Trần Thị Kim P có giá trị 21.000.000 đồng, rồi chạy về nhà ở xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Hành vi của bị cáo Phạm Văn K đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 36/CT-VKS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Phạm Văn K là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, không ai có quyền xâm phạm, mọi hành vi xâm phạm đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Nhận thức rõ được điều đó, nhưng bị cáo bất chấp lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại không có người trông coi đã lén lút thực hiện trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, BKS 76B-495.33 để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì tài sản do bị cáo trộm cắp của bị hại có giá trị 21.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng, bị hại có đơn bãi nại xin không xử lý hình sự đối với bị cáo; ông nội của bị cáo là người có công cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.
Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, chị Trần Thị Kim P vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện chị P đã nhận lại tài sản, ngoài ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho chị P số tiền 2.000.000 đồng, chị P đã nhận tiền có đơn xin bãi nại và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Phạm Văn K 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 28/5/2025.
Giao bị cáo Phạm Văn K cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng; - VKSND TP. Đà Nẵng; - VKSND quận Sơn Trà; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; - Chi cục THADS quận Sơn Trà; - Công an quận Sơn Trà; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Quốc Vũ |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG về hình sự: trộm cắp tài sản
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Kiên phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
