Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày 26 tháng 02 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Sỹ Hoài

Ông Nguyễn Ngọc Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Tống Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H, sinh ngày 23 tháng 4 năm 1995, tại: Khánh Hòa; trú tại:

Tổ dân phố D, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh P, sinh năm 1969 và bà Bùi Thị X, sinh năm 1971, vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2017/HSST ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/9/2018, đã chấp hành xong án phí năm 2019.
  • Bản án hình sự sơ thẩm số 235/2019/HSST ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/6/2020, đã chấp hành xong án phí năm 2020.
  • Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 10/01/2011 của Chủ tịch UBND huyện V về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng do nhiều lần có hành vi Cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/9/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Trần Văn C, sinh năm 1979; trú tại: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở hiện tại: 64/2b khu phố A, thị trấn H, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Văn P1, sinh năm 1983, trú tại: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Ông Trần Công T, sinh năm 1975, trú tại: A P, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1986. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày ngày 27/10/2023, Nguyễn Đức H đi bộ ra khu vực bãi biển Đ, phường V, thành phố N để tìm tài sản trộm cắp.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, H phát hiện anh Trần Văn C điều khiển xe mô tô hiệu VANILLA biển số 79L7-5864 đến dựng xe tại khu vực bãi để xe đối diện ngã ba đường P - Đ, phường V, thành phố N và treo chìa khóa trên xe rồi đi xuống tắm biển. Lợi dụng không có người trông coi nên H đi đến dắt xe mô tô biển số 79L7- 5864 của anh C ra phía đường đi, mở chìa khóa xe chuẩn bị khởi động xe bỏ chạy thì bị người dân và lực lượng công an phường V phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận định giá tài sản số 263/KL-HĐĐGTS ngày 27/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố N kết luận: Xe máy hiệu VANILLA biển số 79L7-5864 trị giá 3.000.000đ (ba triệu đồng).

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSNT ngày 09 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã có quyết định tách tài liệu, vật chứng của vụ án là xe mô tô biển số 79L7-5864 và giấy đăng ký xe mô tô biển số 79L7-5864 và có văn bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp nhận tang vật để điều tra theo thẩm quyền nên không xem xét trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Đức H khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/10/2023, tại khu vực bãi để xe đối diện ngã ba đường P - Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Đức H đã có hành vi trộm cắp của ông Trần Văn C 01 (một) xe mô tô nhãn hiện Vanilla biển số 79L7-5864 trị giá 3.000.000đ.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm, rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án thể hiện bị hại không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng: Theo kết quả xác minh thì xe mô tô biển số 79L7-5864 là tài sản bị mất trộm tại thôn B, xã C, huyện C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã có quyết định tách tài liệu, vật chứng thu giữ của vụ án này là xe mô tô biển số 79L7-5864, Giấy đăng ký xe mô tô biển số 79L7-5864 và có văn bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp nhận tang vật để điều tra theo thẩm quyền. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét việc xử lý vật chứng trong vụ án này.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 9 năm 2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về vật chứng: Vật chứng của vụ án là tài sản bị mất trộm trong một vụ án khác tại huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã có quyết định tách tài liệu, vật chứng và đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp nhận vật chứng để điều tra theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND TP Nha Trang;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an TP Nha Trang;
  • - Chi cục THADS TP Nha Trang;
  • - Bị cáo; bị hại; NLQ;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Quỳnh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức H - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger