Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 40/2025/HS-PT

Ngày: 09 - 4 -2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Thẩm phán:Ông Hoàng Rung K' Nhơn
Ông Đỗ Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 30/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Võ Duy P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 308/2025/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Võ Duy P, sinh năm: 1985, tại: Quảng Ngãi; nơi đăng ký thường trú: Số B T, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú hiện nay: Tầng C, căn 306, khối B, chung cư Y, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Đức T và bà Phan Thị H; vợ: Nguyễn Thị Mỹ D (Đã ly hôn); Có 02 con, sinh năm 2014 và 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đang tại ngoại. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Anh T1 – Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh L. Có mặt.

Trong vụ án còn có bị hại và người liên quan nhưng không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị; không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Duy P và chị Nguyễn Hồng N là đồng nghiệp cùng chung tại Khách sạn N1, địa chỉ: G N, Phường B, thành phố Đ. Trong quá trình làm việc chung, P đã nhiều lần mượn xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 49AC-104.52 của chị N để đi lại. Vào lúc 09 giờ 40 phút ngày 05-5-2024, Võ Duy P tiếp tục mượn xe mô tô của chị N để đi ăn sáng. Sau khi mượn được xe của chị N, P mở cốp xe, phát hiện trong cốp xe có Giấy đăng ký xe mô tô trên nên P này sinh ý định mang đi cầm cố lấy tiền trả nợ. Thực hiện ý định, P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 49AC-104.52 của chị N đến tiệm C ở địa chỉ: Số G N, Phường B, thành phố Đ để cầm cho ông Nguyễn Hữu  với số tiền 21.000.000 đồng rồi đi uống cà phê tại đường N. Khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, chị N không thấy P về trả xe nên nhắn tin đề nghị P trả xe thì P trả lời do trời đang mưa và phải đi đổ xăng nên khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày sẽ đưa xe về trả. Đến 16 giờ cùng ngày, P về lại khách sạn và nói với chị N bị nhóm người cho P vay tiền chặn đường ép lấy xe tại đường H, Phường F, thành phố Đ. Chị N đã yêu cầu P cùng đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Tại cơ quan Công an P khai nhận đã cầm cố xe của chị N và nghĩ ra lý do bị chặn đường ép lấy xe để kéo dài thời gian đợi nhận lương sẽ chuộc xe về trả cho chị N.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS ngày 11/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng đen, biển số 49AC-104.52 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng có giá trị 26.500.000 đồng.

Bản cáo trạng số 328/CT-VKSÐL - LĐ ngày 31-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Võ Duy P ra trước Tòa án để xét xử về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 308/2024/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Duy P phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Võ Duy P 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08-01-2025 bị cáo Võ Duy P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Duy P giữ nguyên kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Giai đoạn phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng. Tuy nhiên, Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là phù hợp. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư Nguyễn Anh T1 bào chữa cho bị cáo và bị cáo thống nhất nội dung tranh luận như sau: Đồng ý về tội danh, khung hình phạt mà án sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo. Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là bồi thường khắc phục hậu quả; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ mới này theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; đủ điều kiện hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn về hành vi phạm tội của bị cáo; mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.
  2. [2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
  3. [3] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đề cập, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai bị hại; kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:

L sự quen biết và lòng tin của bị hại chị Nguyễn Hồng N do làm cùng chung tại Khách sạn N1, địa chỉ: G N, Phường B, thành phố Đ. Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 05-5-2024, sau khi mượn được chiếc xe xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 49AC-104.52 thuộc quyền sở hữu của chị N, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt để lấy tiền trả nợ, thực hiện ý định, bị cáo đã mang chiếc xe trên đến tiệm cầm đồ Khánh U tại địa chỉ: Số G N, Phường B, thành phố Đ để cầm cho ông Nguyễn Hữu  được số tiền 21.000.000 đồng, sau đó bị cáo đem số tiền trên đi trả nợ. Khi chị N đòi xe thì bị cáo nói dối chị N là bị chủ nợ chặn đường ép lấy xe, chỉ khi làm việc với Công an thì bị cáo mới thừa nhận sự việc.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS ngày 11/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng đen, biển số 49AC-104.52 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng có giá trị 26.500.000 đồng.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo hộ, cấm các hành vi xâm phạm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt như đã nêu trên. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội danh.

  1. [4] Về hình phạt và kháng cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội tuy ít nghiêm trọng nhưng trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ. Thời điểm xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo; đã hoàn trả tiền cho người liên quan quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Bộ luật Hình sự là đầy đủ. Đối chiếu trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là bằng ½ trị giá cao nhất của khung hình phạt nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là phù hợp.

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ mới này. Tuy nhiên, qua xem xét diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rằng: bị cáo đã cầm cố xe được số tiền 18 triệu, sau đó bị cáo tiếp tục liên hệ tiệm cầm đồ để lấy thêm 03 triệu cho thấy quyết tâm thực hiện hành vi chiếm đoạt của bị cáo. Việc cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo ngoài cộng đồng sẽ không nghiêm; tạo dư luận và tiền lệ xấu nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo mà cần thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. [5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. [6] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Duy P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 308/2024/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Võ Duy P phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Duy P 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt giam thi hành án.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Duy P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - TAND thành phố Đà Lạt (02);
  • - VKSND thành phố Đà Lạt (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Bị hại (01);
  • - Hồ sơ THAHS (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01)
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 40/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger