Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày: 28 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Hạnh

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 16/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với bị cáo:

Hoàng Văn B - Sinh ngày 05 tháng 5 năm 1970, tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Nguyên Chủ tịch Hội nông dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá; Là Đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 26/7/2018; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn C (đã chết) và bà Đào Thị B1 (đã chết); Có vợ là Lê Thị H (Đã ly hôn) và 02 con; Tiền án; Tiền sự: Không; Tạm giữ: ngày 15/7/2024; Tạm giam: ngày 18/7/2024; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo B: Luật sư Bùi Thị Bích P - Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.

Địa chỉ: Số B N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị hại: Công ty cổ phần C4 (gọi tắt là Công ty C4)

Địa chỉ: B đường B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hồng P1 – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Xuân B2 – Cán bộ pháp chế. Có mặt.

* Người làm chứng: Có mặt ông Đ, còn lại vắng mặt.

- Ông Hoàng Văn G, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Lê Văn S, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; Địa chỉ: Xóm F, xã K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Lê Văn D, sinh năm 1979; Địa chỉ: Xóm G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Đăng K, sinh năm 1962; Địa chỉ: Xóm G, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bà Hà Thị V, sinh năm 1975; Địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Văn B3, sinh năm 1960; Địa chỉ: Xóm D, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Đỗ Văn C1, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Cao Bá T1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Xóm H, xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Hà Đào L, sinh năm 1962; Địa chỉ: Xóm G, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Trần Đăng K1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Đức H1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Trần Hữu H2, sinh năm 1974; Địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Bùi Đình M, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Lê Văn K2, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Tiến T2, sinh năm 1958; Địa chỉ: Xóm F, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Lê Văn A, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Lê Xuân L1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Xóm G, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Dương Văn T3, sinh năm 1960; Địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Hữu T4, sinh năm 1972; Địa chỉ: Xóm F, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Lê Hữu B4, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn D, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Phùng Xuân T5, sinh năm 1987; Địa chỉ: 3 D, p. T, tp ., tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Phạm Thị M1, sinh năm 1980; Địa chỉ: A Phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Lê Thị V1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn X, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn B làm Chủ tịch Hội nông dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá từ năm 2010 đến năm 2017. Trong khoảng thời gian từ năm 2014-2017 khi làm Chủ tịch Hội nông dân huyện T, để nhằm hỗ trợ nông dân trên địa bàn huyện sản xuất kinh doanh, Hoàng Văn B đại diện Hội nông dân huyện đã đứng ra ký kết 03 Hợp đồng kinh tế với Công ty cổ phần C4 (gọi tắt là Công ty C4) nhằm thực hiện việc cung ứng phân bón với ưu đãi “chậm trả”. Cụ thể: Năm 2014 ký kết Hợp đồng số 04HND/2014/HĐHH/TN ngày 20/10/2014; Năm 2016 ký kết Hợp đồng số 20HNDV1TH/2016/HĐKT/TN ngày 02/01/2016; Năm 2017 ký kết Hợp đồng số TS- HNDV1TH/2017/HĐKT/TN ngày 03/01/2017.

Sau khi Hội nông dân huyện ký kết hợp đồng với Công ty C4, Hội nông dân các xã có nhu cầu mua phân bón của Công ty C4 thì báo cáo lại số lượng, loại phân qua Hội nông dân huyện để Hội nông dân huyện thông báo cho Công ty C4 trực tiếp vận chuyển phân bón đến các Hội nông dân xã có nhu cầu. Theo thỏa thuận ký kết hợp đồng, việc thanh toán tiền mua phân bón được thực hiện: Đối với vụ Chiêm X thời hạn thanh toán trước ngày 30/06; Đối với vụ Hè Thu thời hạn thanh toán trước ngày 31/10; Đối với vụ Đông thời hạn thanh toán trước ngày 31/12. Việc thanh toán tiền phân bón được Hội nông dân các xã nộp về Hội nông dân huyện T và Hội nông dân huyện có trách nhiệm thanh toán về Công ty C4.

Khi thấy số tiền phân bón thanh toán quá hạn ngày một nhiều, ngày 31/3/2017 Công ty C4 và Hội nông dân huyện T đã tiến hành đối chiếu công nợ, xác định: Số tiền nợ quá hạn là 2.306.148.650đ; Số tiền nợ chưa đến hạn thanh toán 2.126.026.000đ. Qua làm việc tiếp xúc với các Hội nông dân xã, Công ty C4 phát hiện sở dĩ số nợ quá hạn nêu trên ngày một nhiều, chủ yếu là do Hoàng Văn B sau khi nhận tiền thanh toán phân bón từ Hội nông dân các xã đã tự giữ lại để sử dụng chi tiêu cá nhân.

Ngày 13/4/2017, Hội nông dân tỉnh T chủ trì làm việc với Hội nông dân huyện T và Công ty C4 về nội dung thanh toán tiền mua phân bón chậm trả, kết quả buổi làm việc xác định: Số tiền phân bón mà Hội nông dân huyện T quá hạn nộp về Công ty C4 là do cá nhân Hoàng Văn B đã thu và nhận tiền trực tiếp từ Hội nông dân các xã nhưng chưa nộp về cho Công ty C4. Tại buổi làm việc, Hoàng Văn B thừa nhận việc nhận tiền nhiều lần của các Hội nông dân xã thanh toán tiền phân bón cho Công ty C4 và đã sử dụng vào mục đích cá nhân, đồng thời Hoàng Văn B cam kết với Hội nông dân tỉnh và Công ty C4 sẽ thanh toán tiền nợ cho Công ty C4 vào ngày 30/6/2017 với số tiền là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng), tiếp theo cuối hàng tháng kế tiếp sẽ là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng); Đại diện Công ty C4 xác nhận và đồng ý với cam kết của Hoàng Văn B.

Ngày 30/6/2017, Hoàng Văn B tự ý không đến cơ quan làm việc (Hội nông dân huyện T) và gửi tập đơn đến Huyện ủy T7 theo đường bưu điện, gồm “đơn xin nghỉ đi chữa bệnh, đơn xin thôi việc, đơn xin từ chức, đơn xin rút ủy viên BCH huyện ủy”, đồng thời bỏ nhà đi khỏi địa phương nhằm trốn tránh trách nhiệm trả tiền cho Công ty C4. Xét thấy Hoàng Văn B có dấu hiệu chiếm đoạt toàn bộ số tiền đã nhận từ Hội nông dân các xã, không trả cho Công ty C4, nên ngày 11/9/2017 Công ty C4 có đơn “Tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố” gửi đến Cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra, có đủ căn cứ xác định trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2017, Hoàng Văn B nhiều lần trực tiếp thu, nhận tiền thanh toán phân bón từ Hội nông dân của 23 xã và nhận tiền thanh toán phân bón từ 02 cán bộ Hội nông dân huyện là chị Lê Thị V1, Phạm Thị M1 với tổng số tiền nhận là 2.555.915.000đ (Hai tỷ, năm trăm năm mươi lăm triệu, chín trăm mười lăm nghìn đồng), trong đó Hoàng Văn B chuyển lại tiền để thanh toán cho Công ty C4 là 220.000.000đ (Hai trăm hai mươi triệu đồng). Số tiền Hoàng Văn B còn chiếm đoạt của Công ty C4 là 2.335.915.000₫ (Hai tỷ, ba trăm ba lăm triệu, chín trăm mười lăm nghìn đồng). Cụ thể như sau:

  1. Hoàng Văn B trực tiếp thu tiền phân bón từ Hội nông dân của 23 xã, chị Lê Thị V1 và chị Phạm Thị M1 với tổng số tiền nhận là 2.555.915.000đ, gồm:
    1. Đối với Hội nông dân xã T: Ngày 03/6/2016, ông Hoàng Văn G – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền là 30.000.000đ (có viết giấy nhận tiền); ngày 21/6/2016 nộp cho B số tiền 14.000.000đ (có viết giấy nhận tiền); ngày 18/7/2016 nộp cho B số tiền 23.180.000đ (có phiếu thu, đã giám định). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã T là 67.180.000₫.
    2. Đối với HND xã T: Ngày 30/6/2016, ông Lê Văn S – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 63.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 22/6/2017 nộp cho B là 20.000.000đ (giấy nhận tiền); ngày 23/6/2017 nộp cho B số tiền 13.000.000đ (viết giấy nhận tiền). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã T là 96.000.000₫.
    3. Đối với HND xã K: Ngày 12/7/2016, ông Nguyễn Văn T – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 115.170.000đ (Phiếu thu); ngày 27/10/2016 nộp cho B số tiền 86.050.000₫ (Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã K là 201.220.000đ.
    4. Đối với HND xã T: Ngày 30/6/2016, ông Lê Văn D – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 81.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 05/7/2016 nộp cho B số tiền 63.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 12/7/2016 nộp cho B số tiền 74.250.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã T là 218.250.000₫.
    5. Đối với HND xã B: Ngày 29/7/2016, ông Nguyễn Văn D1 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 35.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 29/7/2016 chuyển tiền phân bón cho B qua tài khoản ngân hàng số tiền 10.000.000đ; ngày 04/10/2016 nộp cho B số tiền 32.000.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã B là 77.000.000đ.
    6. Đối với HND xã Hợp Tiến: Ngày 30/6/2017, bà Hà Thị V – Phó Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 19.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 09/7/2016 ông Nguyễn Đăng K – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 25.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 19/7/2016 ông K nộp cho B số tiền 25.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 27/7/2016 ông K nộp cho B số tiền 32.050.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã H là 101.050.000đ.
    7. Đối với HND xã Hợp Thắng: Ngày 28/10/2016, ông Nguyễn Văn B3 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 18.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 24/11/2016 nộp cho B số tiền 12.000.000đ (có Phiếu thu); cùng ngày 24/11/2016 nộp cho B số tiền 33.000.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã H là 63.000.000đ.
    8. Đối với HND xã Đ: Khoảng tháng 11/2016 (không nhớ ngày), ông Đỗ Văn C1 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 30.000.000đ, không viết Phiếu thu vì khi đó B đang bận việc - BL: 546-556. Hoàng Văn B thừa nhận đã nhận khoản tiền này từ anh C1- BL: 813. Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã Đ là 30.000.000đ.
    9. Đối với HND xã V: Ngày 27/6/2016, ông Cao Bá T1 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 63.450.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã V là 63.450.000đ.
    10. Đối với HND xã T: Ngày 15/6/2016, ông Hà Đào L – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 47.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 05/7/2016 nộp cho B số tiền 15.710.000đ (có Phiếu thu); ngày 08/11/2016 nộp cho B số tiền 51.650.000₫ (có Phiếu thu); ngày 30/6/2017 nộp cho B số tiền 62.000.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã T là 176.360.000đ.
    11. Đối với HND xã Đ: Ngày 25/10/16, ông Nguyễn Hữu Đ – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 25.700.000đ (có Phiếu thu); ngày 31/10/2016 nộp cho B số tiền 8.400.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã Đ là 34.100.000₫.
    12. Đối với HND xã Thọ Vực: Ngày 05/7/2016, ông Trần Đăng K1 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 40.000.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã T là 40.000.000đ.
    13. Đối với HND xã N: Ngày 21/6/2016, ông Nguyễn Đức H1 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 41.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 30/6/2016 nộp cho B số tiền 20.000.000đ (có Phiếu thu); cùng ngày 30/6/2016 nộp cho B số tiền 6.440.000đ (có Phiếu thu); ngày 20/7/2016 nộp cho B số tiền 37.534.000đ (có Phiếu thu); ngày 30/6/2017 nộp cho B số tiền 25.000.000đ. Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã N là 129.974.000đ.
    14. Đối với HND xã Hợp Lý: Ngày 30/6/2017, ông Trần Hữu H2 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 23.890.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã H là 23.890.000đ.
    15. Đối với HND xã D: Ngày 20/6/2017, ông Bùi Đình M – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 35.780.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã D là 35.780.000đ.

    Ngoài ra, Bùi Đình M còn khai ngày 10/10/2015 nộp Bốn 6.170.000₫ có phiếu thu. Tuy nhiên trong phiếu thu không ghi tên người nộp tiền, không có chữ ký người nộp tiền nên không có căn cứ chứng minh.

    1. Đối với HND xã T: Ngày 06/1/2017, ông Lê Văn K2 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 10.000.000đ, không viết phiếu thu (Hoàng Văn B thừa nhận. Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã T là 10.000.000đ.
    2. Đối với HND xã T: Vụ Chiêm Xuân 2015-2016 (không nhớ ngày tháng), ông Nguyễn Văn C2 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 60.620.000₫ (không Phiếu thu, Hoàng Văn B thừa nhận- BL: 815); ngày 27/11/2016 nộp cho B số tiền 84.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 30/6/2017 nộp cho B số tiền 63.800.000₫ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã T là 208.420.000₫.
    3. Đối với HND xã X: Ngày 12/6/2017, ông Nguyễn Tiến T2 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 14.750.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã X là 14.750.000đ.
    4. Đối với HND xã Đ: Ngày 30/6/2016, ông Lê Văn A – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 60.000.000đ (có Phiếu thu); ngày 09/8/2016 nộp cho B số tiền 17.751.000đ (có Phiếu thu); ngày 10/11/2016 nộp cho B số tiền 103.805.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã Đ là 181.556.000₫.
    5. Đối với HND xã D: Ngày 02/8/2016, ông Lê Xuân L1 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 52.080.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã D là 52.080.000đ.
    6. Đối với HND xã T: Ngày 13/6/2016, ông Dương Văn T3 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 34.400.000đ (có Phiếu thu); ngày 26/01/2017 nộp cho B số tiền 20.000.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã T 54.400.000đ.
    7. Đối với HND xã X: Ngày 01/12/2016, ông Nguyễn Hữu T4 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 90.000.000đ (có Phiếu thu). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã X là 90.000.000đ.
    8. Đối với HND xã M: Ngày 21/3/2016, ông Lê Hữu B4 – Chủ tịch HND xã nộp cho B số tiền 42.000.000đ (có viết Phiếu thu nhưng đã thất lạc, hai bên thừa nhận); ngày 28/3/2016 nộp thêm cho B số tiền 2.000.000đ (không có phiếu thu, hai bên thừa nhận). Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận của Hội nông dân xã M là 44.000.000₫.
    9. Nhận lại tiền phân bón của các xã từ chị Lê Thị V1 (cán bộ HND huyện T): Ngày 05/7/2016, chị Lê Thị V1 giao cho B nhận lại số tiền 53.455.000đ (có viết giấy nhận); ngày 15/7/2016, giao cho B nhận số tiền 23.300.000đ (có ký giấy nhận tiền); ngày 29/7/2016, giao cho B nhận số tiền 43.000.000đ. Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận từ chị V1 là 119.755.000đ.
    10. Nhận lại tiền phân bón của các xã từ chị Phạm Thị M1 (cán bộ HND huyện T): Ngày 29/10/2015, chị Phạm Thị M1 giao cho B nhận lại số tiền 201.700.000 (có viết giấy ký nhận); ngày 04/11/2015 giao cho B nhận 30.000.000đ; ngày 30/11/2015 giao cho B nhận 30.000.000đ; ngày 04/12/2015 giao cho B nhận 37.000.000đ; ngày 11/12/2015 giao Bốn nhận 10.000.000đ; ngày 18/12/2015 giao Bốn nhận 15.000.000đ; ngày 23/12/2015 giao cho B nhận 20.000.000đ; ngày 22/7/2016 giao cho B nhận 50.000.000đ; cũng trong năm 2016 (không rõ ngày) M1 giao cho B nhận 30.000.000đ, là khoản tiền phân bón của anh Nguyễn Văn D1 nộp, anh D1 chứng kiến M1 giao lại tiền cho B. Tổng số tiền phân bón Hoàng Văn B nhận từ chị M1 là 423.700.000đ.
  2. Sau khi thu được số tiền phân bón trên, Hoàng Văn B thanh toán cho Công ty C4 tổng 220.000.000đ, gồm:
    1. Trả thông qua Lê Thị V1: Ngày 05/8/2016, B chuyển tiền phân bón cho Lê Thị V1 và V1 chuyển thanh toán cho Công ty C4 với số tiền là 70.000.000đ.
    2. Trả trực tiếp cho anh Phùng Xuân T5 (cán bộ kinh doanh Công ty C4): Ngày 13/01/2017 trả cho Phùng Xuân T5 số tiền 50.000.000đ; ngày 09/3/2017 trả cho T5 nhận số tiền là 100.000.000đ. Tổng số tiền trả cho Công ty C4 thông qua Phùng Xuân T5 là 150.000.000đ.
  3. Như vậy, số tiền Hoàng Văn B còn chiếm đoạt của Công ty C4 là 2.335.915.000₫.

4. Vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ đồ vật tài liệu liên quan, gồm: 46 tờ phiếu thu rời; 01 quyển phiếu thu màu đỏ gồm 55 trang; 01 tờ giấy khổ A4 của chị Lê Thị V1; 01 cuốn sổ màu đen của chị Phạm Thị M1.

5. Kết quả trưng cầu giám định:

Ngày 10/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T Quyết định trưng cầu giám định số 174/CSĐT và 175/CSĐT, nội dung: Giám định chữ ký tại mục Giám đốc, chữ ký tại mục T, chữ ký tại mục Kế toán trưởng trên các “Phiếu thu”. Phòng KTHS Công an tỉnh T có Kết luận giám định số 265A/KLGĐ-PC54 ngày 11/3/2018 và KLGĐ số 265/KLGĐ-PC54 ngày 06/3/2018, kết luận: Chữ ký trên các tài liệu cần giám định ứng với mục Giám đốc, Thủ quỹ, Kế Toán trưởng so với chữ ký tương ứng đứng tên Hoàng Văn B, Lê Thị V1, Phạm Thị M1 trên mẫu tài liệu so sánh là do cùng người ký.

Ngày 30/7/2018, Cơ quan CSĐT (PC44) ra Quyết định trưng cầu giám định số 883, 884, 885/PC44, nội dung: Giám định chữ ký tại mục Giám đốc hoặc Thủ trưởng đơn vị trên các “Phiếu thu”. Phòng KTHS Công an tỉnh T có Kết luận giám định số 1614, 1615, 1616/KLGĐ-PC09 ngày 31/8/2018, kết luận: Chữ ký ở mục "Thủ trưởng đơn vị", "Giám đốc" trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký đứng tên Hoàng Văn B trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký ra.

Ngày 17/8/2018, Cơ quan CSĐT (PC44) ra QĐ trưng cầu giám định bổ sung số 961/PC44, nội dung: Giám định chữ ký tại mục Thủ trưởng đơn vị trên các Phiếu thu. Phòng KTHS Công an tỉnh T có Kết luận giám định số 1717A/KLGĐ-PC09 ngày 31/8/2018, kết luận: Chữ ký Hoàng Văn B, H Bốn ở mục "Thủ trưởng đơn vị" trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký trên các mẫu so sánh là do cùng người ký.

* Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS-P2 ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Hoàng Văn B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm n khoản 4 Điều 175 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng: Khoản 4 Điều 175; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt Hoàng Văn B từ 12 năm đến 13 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có trách nhiệm trả cho bị hại số tiền 2.335.915.000đ; nhưng bị hại tự nguyện cho bị cáo ½ số tiền trên, nên buộc bị cáo trả số tiền còn lại là 1.167.957.500 đồng, bị cáo đồng ý. Bị cáo đã trả được 30.000.000 đồng; bị cáo còn phải trả 1.137.957.500 đồng. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị cáo không tranh luận gì với đại diện VKS.

- Người bào chữa của bị cáo đồng ý với tội danh và điều luật mà VKS truy tố. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX căn cứ điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 BLHS để xem xét giảm nhẹ hình phạt và xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nhân thân tốt. Đề nghị HĐXX xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và cộng đồng xã hội.

- Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Cho bị cáo một nửa số tiền 2.335.915.000đ, chỉ yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.167.957.500 đồng.

- Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng thu được cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Thấy đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ năm 2014-2017, khi Hoàng Văn B đang làm Chủ tịch Hội nông dân huyện T, đại diện Hội nông dân huyện đã đứng ra ký kết 03 Hợp đồng kinh tế đối với Công ty C4 nhằm thực hiện cung ứng phân bón với ưu đãi chậm trả. Hội nông dân các xã có nhu cầu mua phân bón của Công ty C4 thì báo lại qua Hội nông dân huyện để Hội nông dân huyện thông báo cho Công ty C4 trực tiếp vận chuyển phân bón đến các Hội nông dân xã có nhu cầu. Việc thanh toán tiền phân bón được Hội nông dân các xã nộp về Hội nông dân huyện T và Hội nông dân huyện có trách nhiệm thanh toán về Công ty C4. Trong khoảng thời gian từ năm 2015-2017, Hoàng Văn B nhiều lần trực tiếp thu tiền phân bón từ Hội nông dân của 23 xã và nhận tiền thanh toán phân bón từ 02 cán bộ Hội nông dân huyện là chị Lê Thị V1, Phạm Thị M1 với tổng số tiền là 2.555.915.000đ, trong đó Hoàng Văn B chuyển lại tiền để thanh toán cho Công ty C4 là 220.000.000đ. Đến ngày 30/6/2017 Hoàng Văn B bỏ trốn và chiếm đoạt số tiền còn lại là 2.335.915.000₫.

Do Khoản 4 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 có khung hình phạt cao hơn khung hình phạt được quy định tại Khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội áp dụng truy tố Hoàng Văn B theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, hành vi của Hoàng Văn B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo tại bản cáo trạng là đúng pháp luật.

[3]. Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Sau khi bị cáo nhận tiền của các Hội nông dân xã để thanh toán cho bị hại và cam kết trả cho bị hại nhưng bị cáo không trả mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên rồi bỏ trốn. Hành vi của bị cáo chẳng những gây thiệt hại đối với bị hại mà còn gây mất an toàn xã hội, cần được xử lý nghiêm minh.

[4]. Trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Với hành vi của bị cáo và tính chất của vụ án thì việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần TNHS để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật sớm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Vì bị cáo và gia đình bị cáo xin bị hại xem xét hoàn cảnh của bị cáo nên bị hại tự nguyện cho bị cáo một nửa số tiền thiệt hại và bị cáo bồi thường một phần thiệt hại; thành khẩn khai báo; đã được tặng thưởng nhiều bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác Mặt trận năm 2009, có thành tích xuất sắc trong công tác Hội và phong trào thanh niên tỉnh Thanh Hoá trong các năm 2000, 2003, 2006, 2007, 2008 trong công tác Đoàn thanh niên Cộng sản H3; năm 2004 được Ban H3 tặng Huy chương “Vì thế hệ trẻ”; năm 2002 được Ban H3 tặng Huy chương danh dự; Gia đình bị cáo thờ liệt sĩ Hoàng Như C3 là anh trai bị cáo; đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt cho bị cáo.

[5]. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Văn B chiếm đoạt của Công ty C4 số tiền 2.335.915.000₫ (Hai tỷ, ba trăm ba lăm triệu, chín trăm mười lăm nghìn đồng). Công ty C4 tự nguyện cho bị hại ½ số tiền trên, yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.167.957.500 đồng, bị cáo đồng ý. Bị cáo đã trả được 30.000.000 đồng; bị cáo còn phải trả 1.137.957.500 đồng.

[6]. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 175; Điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn B 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 15/7/2024.

    Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 của BLTTHS. Điểm a, c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

  3. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo trả cho bị hại là Công ty cổ phần C4 số tiền còn lại là 1.167.957.500 đồng (Một tỷ, một trăm sáu mươi bảy triệu, chín trăm năm bảy nghìn năm trăm đồng); bị cáo đã trả 30.000.000 đồng; còn phải trả 1.137.957.500 đồng.

    Công ty cổ phần C4 được nhận số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá theo Biên lai thu số 604 ngày 23/01/2025 do bị cáo B nộp khắc phục hậu quả.

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền trên, nếu bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành.

  4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 46.138.000 đồng án phí dân sự.

    Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá (P2);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở tư pháp Thanh Hoá;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa (PC02);
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; Bị hại; NBC;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thủy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Như Hạnh Nguyễn Thị Nga

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger