Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỸ HÀO

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 40 /2025/HS - ST

Ngày 20/03/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Mạnh Hà, Cán bộ hưu
  2. Bà Vũ Thị Lưu Xa, Giáo viên

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đăng Toàn- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào - tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở TAND thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2025/TLST- HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/ QĐXXST- HS ngày 05 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Ngọc H; Sinh ngày: 23/4/2007.

Trú tại: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính; Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Ngọc H1, sinh năm: 1980 và con bà La Thị L, sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Trần Ngọc H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Hà Văn H2- SN 1996 (vắng mặt)

HKTT: Bản Úm 2, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Đinh Văn M- SN 1998 (có mặt)

HKTT: Bản Ban, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H: Bà La Thị L- SN 1981(có mặt)

Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

1

Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Nguyễn Thị D- Luật sư thực hiện hợp đồng trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh H (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc H, sinh ngày 23/4/2007, trú tại: xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và anh Đinh Văn C, sinh năm 2001, trú tại: Bản Ú, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La có biết nhau từ trước. Do có nhu cầu tìm việc làm, nên H liên hệ với anh C được biết anh C đang làm thuê ở tổ dân phố P, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên và ở trọ cùng anh Hà Văn H2, sinh năm 1996; anh Hà Văn K, sinh năm 2001 và Lò Văn Q, sinh năm 1998 đều ở Bản Ú, xã H, huyện P Ngày 01/10/2024, H đi xe khách từ nhà đến gặp anh C nhờ xin hộ việc và xin ở nhờ thì anh C và mọi người đồng ý. Đến trưa ngày 07/10/2024 Hiểu phát hiện phía sau trong ốp điện thoại của anh H2 có 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, H nảy sinh ý định trộm cắp. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày anh Q và anh K đi làm, anh H2 vẫn đang ngủ nên Hiểu lấy trộm 1.000.000 đồng ở trong ốp điện thoại của anh H2 đút vào túi áo rồi tiếp tục lấy chiếc chìa khóa xe mô tô của anh H2 treo ở tường cạnh của phòng trọ, nổ máy và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26D1- 443.03 đang dựng ở hành lang trong dẫy nhà trọ (chiếc xe này là của anh Đinh Văn M, sinh năm 1998 ở bản B, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La cho anh H2 mượn) đi về nhà. Trên đường đi để tránh bị phát hiện, H đã dừng lại ở đường (không xác định được địa điểm) mở cốp xe mô tô lấy cà lê có sẵn trong cốp tháo biển số cất vào trong cốp xe, đồng thời bóc miếng dán đề can ở phía trước mặt lạ xe, tháo chiếc gương chiếu hậu bên trái và giá để đồ bằng inox giữa khung xe vứt đi xong để cà lê vào trong cốp xe rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô trên về Thái Nguyên để làm phương tiện đi lại.

Sau khi phát hiện mất tài sản, anh H2 và anh M nhiều lần liên hệ với H nhưng không liên lạc được nên anh M và anh H2 đề nghị Công an phường D, xử lý Hiểu theo quy định.

Cơ quan điều tra tiến hành trích sao dữ liệu camera tại khu nhà trọ của anh Lê Duy H3 ghi lại hình ảnh Trần Ngọc H4 lấy trộm chiếc xe mô tô, được niêm phong ghi ký hiệu VD.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐ ngày 20/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã M kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô biển số 26D1- 443.03 ngày 07/10/2024 là 15.300.000 đồng. Còn chiếc gương xe và

2

khung giá đỡ bằng inox không có thông tin về tài sản nên Hội đồng định giá không định giá.

Tại Bản kết luận giám định số 18/KL- KTHS (KTS) ngày 03/02/2025 của Phòng K1 kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01(một) file video trong mẫu niêm phong ký hiệu VD gửi giám định. Mẫu hoàn lại được niêm phong được lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Sau khi anh H2 và anh M liên lạc với H không được nên ngày 17/10/2024 anh M đi lên Thái Nguyên tìm Hiểu để đòi lại chiếc xe. Tại đây H đã trả anh M chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave @ biển số 26D1- 443.03. Anh M nhận lại xe về sử dụng, xét thấy chiếc xe biển số 26D1- 443.03 là tài sản hợp pháp của anh M nên Cơ quan điều tra đã không quản lý đối với chiếc xe trên.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Hà Văn H2 yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 1.000.000 đồng, còn anh M tự nguyện khắc phục chiếc gương và giá để đồ bằng inox không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Quá trình điều tra bị cáo Trần Ngọc H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 40/CT - VKSMH ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Trần Ngọc H thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Hoàn toàn nhận tội Trộm cắp tài sản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Đinh Văn M: Tại phiên tòa không có yêu cầu và đề nghị gì.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H là bà La Thị L: Tại phiên tòa không có yêu cầu và đề nghị gì.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc H từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Ngọc H cho U, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nơi bị cáo cư trú, quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được

3

hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 2 điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 357; Khoản 1 điều 584; Khoản 1 Điều 585; Điều 586; Khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự

Buộc bị cáo Trần Ngọc H phải bồi thường cho bị hại anh Hà Văn H2- SN 1996; HKTT: Bản Úm 2, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng)

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đã được giải quyết song tại giai đoạn điều tra nên không đặt ra để xét

Về án phí : Buộc bị cáo Trần Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật nhưng do bị cáo Trần Ngọc H phạm tội trong độ tuổi vị thành niên nên bà La Thị L là mẹ đẻ bị cáo nộp thay cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Nguyễn Thị D, Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và đề nghị xử phạt bị cáo 09 tháng tù cho hưởng án treo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử được tống đạt cho bị cáo đúng pháp luật. Việc lấy lời khai những người tham gia tố tụng, hỏi cung bị can đều đảm bảo. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Hội đồng xét xử xác định việc điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Ngọc H đã thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Người làm chứng, người đại diện hợp pháp; Kết luận định giá tài sản cùng các vật chứng mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Với động cơ, mục đích chiếm đoạt tài sản, khoảng 13 giờ 15 phút ngày 07/10/2024 tại khu nhà trọ của anh Lê Duy H3 ở tổ

4

dân phố P, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Trần Ngọc H đã trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 26D1 - 443.03 giá trị là 15.300.000 đồng và số tiền 1.000.000 đồng của anh Hà Văn H2, sau đó bị phát hiện.

Hành vi nêu trên của Trần Ngọc H đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đó truy tố bị cáo Trần Ngọc H như cáo trạng đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, là khách thể được luật hình sự bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây mất trật tự tại địa phương.

Xét về vụ án này bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách độc lập, tội phạm đã hoàn thành, xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, động cơ tư lợi cá nhân, muốn có tiền từ việc thu lời bất chính lên bị cáo đã trực tiếp có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô biển số 26D1 - 443.03 giá trị là 15.300.000 đồng và số tiền 1.000.000 đồng của anh Hà Văn H2, sau đó bị phát hiện. Lẽ ra phải xử nghiêm và bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian. Nhưng xét đến nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thật thà khai báo, ăn năn hối cải tại phiên tòa, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và ông nội bị cáo được tặng thưởng Huân chương, bị cáo phạm tội trong độ tuổi vị thành niên nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trỏch nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 90; Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy có căn cứ xử cho bị cáo được hưởng án treo thì cũng tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đảm bảo tính phòng ngừa chung, nên áp dụng khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự, xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú, quản lý giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo khai tại phiên tòa bị cáo không có công ăn việc làm, việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành án, bị cáo phạm tội trong độ tuổi vị thành niên nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Do hành vi phạm tội của bị cáo Trần Ngọc H đã trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 26D1 - 443.03 giá trị là 15.300.000 đồng và số tiền 1.000.000 đồng của anh Hà Văn H2, nay cơ quan điều tra đã thu hồi và trao trả chiếc xe mô tô cho anh H2, anh H2 đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì thêm đối với chiếc xe mô tô nhưng anh H2 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh H2 số tiền 1.000.000 đồng bị cáo đã trộm cắp của anh H2. Xét việc yêu cầu bồi

5

thường của anh H2 có đầy đủ cơ sở chấp nhận nên sẽ buộc bị cáo phải bồi thường trả anh H2 số tiền 1.000.000 đồng .

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đã được giải quyết song tại giai đoạn điều tra nên không đặt ra để xét

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 điều 135; Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội quy định về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nay sẽ buộc bị cáo phải chịu một số tiền nhất định theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91 Bộ luật hình sự.

Xử phạt:

Bị cáo Trần Ngọc H 01 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Ngọc H cho U, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nơi bị cáo cư trú, quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 2 điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Khoản 1 Điều 357; Khoản 1 điều 584; Khoản 1 Điều 585; Điều 586; Khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự

Buộc bị cáo Trần Ngọc H phải bồi thường cho bị hại anh Hà Văn H2- SN 1996; HKTT: Bản Úm 2, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng)

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đã được giải quyết song tại giai đoạn điều tra nên không đặt ra để xét

Về án phí :

Buộc bị cáo Trần Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật nhưng do bị cáo Trần Ngọc H phạm tội trong độ tuổi vị thành niên nên bà La Thị L là mẹ đẻ bị cáo nộp thay cho bị cáo.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo nên TAND tỉnh Hưng Yên để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6

Bị hại, người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận

  • -VKSND thị xã Mỹ Hào
  • -Cơ quan CSĐT-CA tỉnh Hưng Yên
  • -Cơ quan THAHS-CA tỉnh Hưng Yên
  • -Chi cục THADS thị xã Mỹ Hào
  • -Phòng KTNV và THATAND tỉnh
  • - Bị cáo
  • -Bị hại, người đại diện hợp pháp
  • - Người có Ql và NVLQ
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thơm

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS - ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 40/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án HSST Trần Ngọc Hiểu - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger