Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày: 18/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Sáng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến

Ông Nguyễn Văn Miến

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Uyến - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lưu Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 22/10/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2025/HS-QĐ ngày 04/11/2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L, sinh ngày 28/6/1973 tại xã K, Tp .; Nơi cư trú: Xóm F, thôn T, xã K, Tp .; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1952; Chồng: Đã ly hôn; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 đến nay, hiện đang bị giam tại Trại giam S Công an T2 (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Đặng Xuân K, sinh năm 1991 (xin vắng mặt);
    Địa chỉ: Thôn A, xã H, tỉnh Phú Thọ.
  • + Chị Bàn Thị P, sinh năm 1988 (xin vắng mặt);
    Địa chỉ: Bản B, xã Đ, tỉnh Sơn La.
  • + Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 (xin vắng mặt);
    Địa chỉ: Thôn A, xã H, Tp ..
  • + Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1964 (vắng mặt);
  • + Ông Phùng Xuân T1, sinh năm 1963 (vắng mặt);
    Cùng địa chỉ: Thôn A, xã H, Tp ..

- Người làm chứng: Anh Đinh Trường A, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm N, xã V, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định, muốn có tiền tiêu sài nên Nguyễn Thị L đi tìm gái bán dâm với mục đích môi giới cho khách có nhu cầu mua dâm để kiếm tiền. Năm 2024, qua mối quan hệ xã hội L quen biết với Bàn Thị P, sinh năm 1988, trú tại bản B, xã Đ, tỉnh Sơn La - là gái bán dâm. L và P thỏa thuận với nhau, L sẽ là người đi tìm khách mua dâm và giới thiệu cho P đi bán dâm để kiếm tiền, giá bán dâm L sẽ thỏa thuận với khách và thu tiền của khách (dao động từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng/lần bán dâm). Sau khi thống nhất giá mua, bán dâm và thu tiền của khách, L sẽ dẫn P đến địa điểm do khách chỉ để P bán dâm. Sau mỗi lần bán dâm xong, L sẽ chia một nửa số tiền thu được cho P. Khoảng đầu tháng 7/2025, P từ quê đến ở cùng với L tại thôn T, xã K, Tp .. Từ ngày 04/7/2025 đến ngày 09/7/2025, Nguyễn Thị L đã 02 lần thực hiện hành vi môi giới mại dâm, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

Qua mối quan hệ xã hội, Nguyễn Thị L quen biết với Đặng Xuân K, sinh năm 1991, trú tại thôn A, xã H, tỉnh Phú Thọ. Khoảng 11 giờ 13 phút ngày 04/7/2025 L nhận được tin nhắn Zalo của K, K đặt vấn đề nhờ L giới thiệu gái bán dâm, thì L đồng ý. L yêu cầu P đi đến xã H, Tp . để bán dâm cho khách thì P đồng ý. Sau đó, L nhắn tin hẹn K vào 15 giờ chiều cùng ngày sẽ đưa P đến xã H, Tp . để Kỳ mua dâm thì K đồng ý. Sau đó, L hẹn K đến nhà nghỉ T3 thuộc thôn A, xã H, Tp .. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, L cùng P đến nhà nghỉ T3 và gặp K ở đó, tại đây L và K thỏa thuận giá mua, bán dâm là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Kỳ chuyển khoản cho L vào ngân hàng M1 có số tài khoản: 053943939, mang tên Nguyễn Thị L. Sau đó, P hỏi thuê phòng thì được ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; trú tại: Thôn A, xã H, Tp. (chủ nhà nghỉ) sắp xếp cho thuê phòng số 06. K và P đi vào phòng số 06 thực hiện hành vi mua, bán dâm. L ngồi chờ ở phòng số 02 chờ P bán dâm xong để đưa P về. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, K và P mua bán dâm xong, L đưa P về nhà tại thôn T, xã K, Tp .. Trên đường về, L đưa cho P 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), còn lại 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền công môi giới L đã tiêu sài hết.

Lần thứ hai:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/7/2025, K nhắn tin rủ L đến xã H, Tp. ăn uống, sau đó giới thiệu gái bán dâm cho K để K mua dâm thì L đồng ý. L yêu cầu P đi cùng để bán dâm cho K. Khoảng 12 giờ cùng ngày, L và P đến xã H, Tp . gặp K và bạn là anh Đinh Trường A, sinh năm 1995, trú tại: Xóm N, xã V, tỉnh Phú Thọ. Tất cả đến quán “Bia hơi Hà Nội N” địa chỉ tại thôn A, xã H, Tp . ngồi uống bia. Sau khi ăn uống được khoảng 10 phút thì K đặt vấn đề với L mua dâm P và được L đồng ý. K và L thỏa thuận mua dâm với giá là 500.000 đồng. Sau khi đưa tiền cho L xong, K và P đi đến nhà nghỉ T4 ở thôn A, xã H, Tp. do ông Phùng Xuân T1, sinh năm 1963 làm chủ để thuê phòng thực hiện hành vi mua bán dâm, còn L và A vẫn ngồi lại ở quán bia. Khi K và P đến nhà nghỉ T4 thì đã hỏi thuê phòng và được bà Đỗ Thị N (vợ ông Phùng Xuân T1) sắp xếp cho thuê phòng 101. K và P vào phòng được 02 phút thì K ra quầy lễ tân xin bà N 01 chiếc bao cao su. Sau đó K đi vào phòng và thực hiện hành vi mua bán dâm với P nhưng không sử dụng bao cao su. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã H, Tp. kiểm tra hành chính nhà trọ 196 thì phát hiện hành vi mua bán dâm của K và P tại phòng 101 của nhà trọ. Công an xã H đã tiến hành lập biên bản và đưa tất cả những người có liên quan về trụ sở để làm rõ sự việc. Đến khoảng 14 giờ ngày 09/7/2025, L đã đến Công an xã H, Tp . để đầu thú, khai nhận hành vi của mình và giao nộp 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) là số tiền thu của khách mua dâm.

Vật chứng, đồ vật tài liệu thu giữ:

  • - 01 bao cao su, vỏ ngoài màu trắng vàng có chữ “Vip” (chưa sử dụng);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862627051292214, số IMEI 2: 862627051292206 thu giữ của Nguyễn Thị L;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 352192208062124, số IMEI 2: 352192209781235 thu giữ của Đặng Xuân K;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 863002067872533, số IMEI 2: 863002067872525 thu giữ của Bàn Thị P;
  • - 01 đoạn video thể hiện việc K, A, L, P ngồi ăn uống tại quán “Bia hơi Hà Nội N” vào ngày 09/7/2025. Sau đó, K đã đưa cho L số tiền 500.000 đồng là tiền Kỳ mua dâm P;
  • - 01 đoạn video thể hiện việc K và P đến thuê phòng 101 nhà nghỉ trọ 196 vào ngày 09/7/2025;
  • - Số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).

Xử lý vật chứng:

Ngày 12/7/2025, Công an xã H, Tp . đã tiến hành trao trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 352192208062124, số IMEI 2: 352192209781235 cho Đặng Xuân K là chủ sở hữu hợp pháp. Trao trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 863002067872533, số IMEI 2: 863002067872525 cho Bàn Thị P. Sau khi nhận lại tài sản Đặng Xuân K và Bàn Thị P không có ý kiến gì.

Các tình tiết khác có trong vụ án:

Ngày 29/8/2025 tại Công văn phúc đáp Lệnh thu giữ thư tín/điện tín/bưu kiện/bưu phẩm số 1975 của Tập đoàn C:

  • + Số thuê bao 0965.190.828 có thông tin thuê bao trùng khớp với thông tin cá nhân của Đặng Xuân K
  • + Số thuê bao 0358.992.164 có thông tin chủ thuê bao là Nguyễn Thị B, sinh năm 1959, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn cũ (Nay là xã T, tỉnh Lạng Sơn). Qua kiểm tra rà soát trên hệ thống dữ liệu dân cư và địa bàn, Công an xã T xác định không có công dân nào có thông tin như trên hiện đang sinh sống, đăng ký thường trú tại xã T, tỉnh Lạng Sơn. Nguyễn Thị L khai số thuê bao trên được L mua và sử dụng làm sim rác, hiện không nhớ mua ở đâu.

Đối với Bàn Thị P là gái bán dâm có hành vi bán dâm cho Đặng Xuân K vào ngày 04/7/2025 và ngày 09/7/2025. Hành vi của P đã vi phạm khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Mức phạt từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng.

Đối với Đặng Xuân K có hành vi mua dâm Bàn Thị P ngày 04/7/2025 và ngày 09/7/2025. Hành vi của K đã vi phạm khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Đối với ông Nguyễn Văn T là chủ nhà nghỉ T3, thời điểm Đặng Xuân K và Bàn Thị P thuê phòng 06 để thực hiện hành vi mua bán dâm ngày 04/7/2025, ông T không có thỏa thuận gì với bị cáo Nguyễn Thị L về việc K và P mua bán dâm. Ông T không biết và không được hưởng lợi gì từ việc Đặng Xuân K và Bàn Thị P mua bán dâm. Do vậy, không có căn cứ để xử lý ông T về hành vi “chứa mại dâm” quy định tại Điều 327 BLHS 2015. Qua kiểm tra quá trình hoạt động kinh doanh ngành nghề có điều kiện, ông T là chủ nhà nghỉ T3 không xuất trình được Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Ông T đã vi phạm điểm a khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP và điểm a khoản 3 Điều 6 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020.

Đối với ông Phùng Xuân T1 là chủ nhà nghỉ trọ 196 và bà Đỗ Thị Ngọc N1 cho thuê phòng, thời điểm Đặng Xuân K và Bàn Thị P thuê phòng 101 để thực hiện hành vi mua bán dâm ngày 09/7/2025, ông T1 không có thỏa thuận gì với bị cáo Nguyễn Thị L về việc K và P mua bán dâm. Ông T1 không biết và không được hưởng lợi gì từ việc Đặng Xuân K và Bàn Thị P mua bán dâm. Do vậy, không có căn cứ để xử lý ông T1 về hành vi “chứa mại dâm” quy định tại Điều 327 BLHS 2015. Qua kiểm tra quá trình hoạt động kinh doanh ngành nghề có điều kiện, ông Phùng Xuân T1 chủ nhà nghỉ trọ 196 đã xuất trình được Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 01T8017420 (Đăng ký lần đầu ngày 23/12/2021). Tuy nhiên, không xuất trình được Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Hành vi trên của ông T1 đã vi phạm điểm a khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Ngày 03/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T2 có công văn số 156/CSĐT yêu cầu Công an xã H lập hồ sợ và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đặng Xuân K, Bàn Thị P, Nguyễn Văn T và Phùng Xuân T1 về các hành vi nêu trên.

Tại Bản Cáo trạng số 03/CT-VKSKV10 ngày 14/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm d khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Về vật chứng đề nghị HĐXX xử lý theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa không có khiếu nại, tố cáo về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Theo đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án được xác định là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ căn cứ kết luận:

Do cần tiền tiêu sài cá nhân, nên từ ngày 04/7/2025 đến ngày 09/7/2025, Nguyễn Thị L đã 02 lần thực hiện hành vi môi giới mại dâm. Cụ thể: lần thứ nhất, ngày 04/7/2025, tại phòng số 6 nhà nghỉ T3 thuộc thôn A, xã H, Tp . do ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 làm chủ. Nguyễn Thị L đã môi giới để Bàn Thị P bán dâm cho Đặng Xuân K với số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Lần thứ hai, ngày 09/7/2025, tại phòng 101 nhà nghỉ T4 ở thôn A, xã H, Tp. do ông Phùng Xuân T1 làm chủ. Nguyễn Thị L đã môi giới để Bàn Thị P bán dâm cho Đặng Xuân K với số tiền là 500.000 đồng. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc K và P đang có hành vi mua, bán dâm thì bị Công an xã H, TP . kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm d khoản 2 Điều 328 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ tội phạm và năng lực chịu trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi “Môi giới mại dâm” là vi phạm pháp luật, đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến đạo đức, nếp sống văn hóa, là nguồn lây lan căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, gây ra dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Về nhân thân: Tại Bản án số 13/2013/HSST ngày 12/12/2012, bị cáo bị TAND huyện Quốc Oai xử phạt 4 năm tù về tội Môi giới mại dâm. Chấp hành xong Bản án ngày 31/8/2015.

Về tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên HĐXX cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về áp dụng hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây lo lắng, bất bình trong nhân dân nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc với các bị cáo, cần phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 bao cao su, vỏ ngoài màu trắng vàng có chữ “Vip” (chưa sử dụng) là vật trực tiếp liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862627051292214, số IMEI 2: 862627051292206 thu giữ của Nguyễn Thị L là công cụ phạm tội cần tịch thu, phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 đoạn video thể hiện việc K, A, L, P ngồi ăn uống tại quán “Bia hơi Hà Nội N” vào ngày 09/7/2025. Sau đó, K đã đưa cho L số tiền 500.000 đồng là tiền Kỳ mua dâm P và 01 đoạn video thể hiện việc K và P đến thuê phòng 101 nhà nghỉ trọ 196 vào ngày 09/7/2025 là các nguồn chứng cứ quan trọng cần bảo lưu cùng hồ sơ vụ án;
  • - Đối với số tiền 600.000 đồng là số tiền mà Đặng Xuân K dùng để mua dâm Bàn Thị P là tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Tại các bút lục số 139, 140, 186, 190, Bàn Thị P và bị cáo đều khai nhận sau khi thực hiện hành vi môi giới mại dâm cho Đặng Xuân K ngày 04/7/2025 với số tiền bán dâm là 500.000đ, bị cáo và P đã chia đôi số tiền này mỗi người được hưởng 250.000đ, bị cáo và P đã tiêu sài cá nhân hết. Đây là số tiền bị cáo và P có được do bị cáo phạm tội mà có. Căn cứ Điều 47 BLHS 2015 cần truy thu của bị cáo và P mỗi người số tiền 250.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Các nội dung khác:

Tại các bút lục từ 111 đến 134 và các biên bản lấy lời khai đều thể hiện, Đặng Xuân K sử dụng điện thoại của mình để liên hệ với Nguyễn Thị L thoả thuận việc mua dâm. Đây là tài sản trực tiếp liên quan đến tội phạm cần tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản này cho K và Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát của mình cũng không yêu cầu Cơ quan điều tra thu giữ lại tài sản này là vi phạm các quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với Bàn Thị P là gái bán dâm có hành vi bán dâm cho Đặng Xuân K vào ngày 04/7/2025 và ngày 09/7/2025. Đặng Xuân K có hành vi mua dâm Bàn Thị P ngày 04/7/2025 và ngày 09/7/2025. Qua kiểm tra quá trình hoạt động kinh doanh ngành nghề có điều kiện, ông Nguyễn Văn T là chủ nhà nghỉ T3 không xuất trình được Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Ông Phùng Xuân T1 chủ nhà nghỉ trọ 196 không xuất trình được Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Cơ quan điều tra đã đề nghị công an xã H lập biên bản xử lý vi phạm hành chính đối với Đặng Xuân K, Bàn Thị P, Nguyễn Văn T, Phùng Xuân T1 về các hành vi trên là có căn cứ và đúng pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Môi giới mại dâm”.

1. Về hình phạt:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2025.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su, vỏ ngoài màu trắng vàng có chữ “Vip”.
  • - Tịch thu, phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862627051292214, số IMEI 2: 862627051292206 thu giữ của Nguyễn Thị L.

Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 10/GN/2025/KV10 ngày 17/11/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – Hà Nội.

  • - Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 600.000 đồng theo Uỷ nhiệm chi ngày 13/11/2025 tại Kho bạc Nhà nước khu vực 1.
  • - Bảo lưu cùng hồ sơ vụ án 01 đoạn video thể hiện việc K, A, L, P ngồi ăn uống tại quán “Bia hơi Hà Nội N” vào ngày 09/7/2025. Sau đó, K đã đưa cho L số tiền 500.000 đồng và 01 đoạn video thể hiện việc K và P đến thuê phòng 101 nhà nghỉ trọ 196 vào ngày 09/7/2025.

3. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – Bàn Thị P mỗi người 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có.

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Công an Tp. Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 10 – Hà Nội;
  • - Phòng THA dân sự khu vực 10 – Hà Nội;
  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Kiều Phú, TP. Hà Nội;
  • - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Đình Sáng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HÀ NỘI về môi giới mại dâm

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 48 (Bốn mươi tám) tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger