Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày: 18-03-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Dũng
  2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T; sinh ngày: 29/4/1988 tại Thành phố Cần T; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H (chết) và bà: Phạm Thị M; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2024 tại Trại tạm giam Chí – Phân trại tạm giam khu vực Quận A.

(Bị cáo có mặt).

Bị hại:

  1. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1982 (vắng mặt).
    Địa chỉ: C đường V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Ông Trần Tuấn Đ, sinh năm 1996 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Căn hộ C Chung cư O Â, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Ông Nguyễn Trần Hiếu N, sinh năm: 2000 (vắng mặt).
    Địa chỉ: I A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Ông Dương Hoài B, sinh năm: 2001 (vắng mặt).
    Địa chỉ: 2 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Vũ Ngọc T2, sinh năm: 1975 (vắng mặt).
    Địa chỉ: B Â, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Dương Thị Y, sinh năm: 1980 (vắng mặt).
    Địa chỉ: B T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Lý Cẩm D, sinh năm: 2001 (vắng mặt).
    Địa chỉ: B Bà H, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 06/08/2024, bị cáo Nguyễn Anh T đi bộ đến trước Khu vực A4, trường Đại học B1, số B đường L, Phường A, Quận A, bị cáo T phát hiện chiếc xe máy hiệu Wave S, biển số: 5486-4132 của anh Lê Văn T1, vẫn cắm chìa khoá trong ổ khoá, không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo T đi bộ đến ngồi lên xe, dùng tay phải mở khoá rồi nổ máy điều khiển xe chạy tẩu thoát. Sau đó, bị cáo T mang xe đến Tiệm cầm đồ, địa chỉ 280 đường B, Phường 1, Quận A để cầm xe và nói là để quên giấy tờ xe ở nhà. Bà Lý Cẩm D chủ tiệm cẩm đồ đồng ý cho bị cáo T mượn 2.000.000 đồng và gửi chiếc xe máy biển số: 5456-4132 lại tiệm cầm đồ. Sau đó, bị cáo T viết giấy vay 6.000.000 đồng và gửi chiếc xe trên tại tiệm cầm đồ hẹn ngày 19/8/2024 sẽ mang giấy tờ xe đến.

Ngày 30/8/2024, anh Lê Văn T1 đến Công an P1, Quận A trình báo. Công an P1, Quận A lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A) giải quyết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A) trưng cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt. Kết luận định giá tài sản số 2064/KL-HĐĐGTS ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A1 xác định: “Tại thời điểm ngày 06/08/2024, chiếc xe máy hiệu Honda Wave S, biển số: 5486-4132 có giá trị 6.400.000 đồng”.

Khoảng 09 giờ ngày 09/8/2024, Nguyễn Anh T đi bộ trên đường L, Phường A, Q thì phát hiện chiếc xe máy hiệu Honda Vision, biển số 59K2 – 249.54 của ông Dương Hoài B đang để tại Tiệm rửa xe 284/6 - địa chỉ 2 L, Phường A, Q, chìa khoá xe vẫn cắm trên ổ khoá không có người trông coi. T nảy sinh ý định chiếm đoạt, đi bộ đến ngồi lên xe, dùng tay mở khoá xe nổ máy chạy tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt xe, T mang xe đến Tiệm cầm đồ L, số B Â, Phường E, Quận A, gặp ông Vũ Ngọc T2, là nhân viên Tiệm cầm đồ, nói xe để quên giấy tờ xe ở nhà. Ông T2 đồng ý cho T mượn 6.000.000 đồng, gửi chiếc xe hiệu Honda Vision, biển số 59K2 – 249.54 lại tiệm cầm đồ và hẹn ngày mai mang giấy tờ xe đến làm thủ tục cầm xe.

Ngày 09/8/2024, ông Dương Hoài B phát hiện xe bị mất nên đến Công an P1, Quận A trình báo. Công an P1 tiếp nhận chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A) giải quyết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A) yêu cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt. Kết luận định giá tài sản số 1769/KL-HĐĐGTS ngày 06/9/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A1 xác định: Tại thời điểm ngày 09/8/2024 chiếc xe máy Honda Vision biển số 59K2 – 249.54, có giá: 18.000.000 đồng.

Khoảng 08 giờ ngày 13/8/2024, bị cáo T đi bộ trên đường Đ, khi đến trước số E Đ, Phường E, Quận A, phát hiện xe máy nhãn hiệu Winner, biển số: 59C1-814.95 của anh Nguyễn Trần Hiếu N để trước nhà, chìa khoá vẫn còn cắm trên ổ khoá xe không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo T đi bộ đến ngồi lên xe, dùng tay phải mở khoá rồi lùi xe xuống đường, nổ máy chạy tẩu thoát. Sau đó, bị cáo T mang xe đến bãi xe trên đường Đ gửi. Khi bị phát hiện bị cáo T đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Ngày 13/8/2024, anh N đến Công an P2, Quận A trình báo. Công an P2, Quận A tiếp nhận chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A) xử lý.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A) yêu cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt. Kết luận định giá tài sản số 2057/KL-HĐĐGTS ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A1 xác định tại thời điểm ngày 13/8/2024 chiếc xe máy hiệu Honda Winner, biển số: 59C1-814.95 có giá trị: 16.000.000 đồng.

Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A) đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q) bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Số tiền cầm xe bị cáo T đã tiêu xài cá nhân hết. Lời khai nhận tội của bị cáo T phù hợp với vật chứng thu giữ, hình ảnh camera thu giữ tại hiện trường. Bị cáo T còn khai nhận đã chiếm đoạt tài sản ở khu vực quận T, cụ thể như sau: Vào khoảng 06 giờ 30 ngày 10/8/2024, khi đang đi bộ thì bị cáo T phát hiện 01 xe đạp hiệu Giant-ATX 810 màu trắng của anh Trần Tuấn Đ không người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo T đi bộ đến lấy chiếc xe đạp hiệu Giant - ATX 810, sau đó điều khiển xe tẩu thoát. Khoảng 15 giờ 48 phút cùng ngày, bị cáo T mang chiếc xe đạp trộm cắp được đến cửa hàng mua bán xe đạp cũ, địa chỉ: B T, phường H, quận T bán cho bà Dương Thị Y với giá 4.500.000 đồng. Khi bán xe, bị cáo T cam kết chiếc xe trên là của bị cáo T. Ngày 18/8/2024, ông Trần Tuấn Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T (nay là Công an Thành phố Q cơ sở quận T) trình báo.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T (nay là Công an Thành phố Q cơ sở quận T) yêu cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt. Kết luận định giá tài sản số 2319/KL-HĐĐGTS ngày 02/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận T xác định: “Tại thời điểm ngày 10/8/2024 chiếc xe xe đạp hiệu Giant-ATX 810 có giá trị 6.000.000 đồng”.

Ngày 16/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T (nay là Công an Thành phố Q cơ sở quận T) khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Anh T về tội “trộm cắp tài sản”. Ngày 26/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú ra quyết định số 37/QĐ-VKS-HS chuyển vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Công an Thành phố Q) điều tra theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Số tiền 6.000.000 đồng bị cáo T đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra bà Dương Thị Y khai khi bán xe bị cáo T cam kết xe trên là của bị cáo T, bà Y không biết chiếc xe đạp hiệu Giant-ATX 810 mà bị cáo T mang đến bán do phạm tội mà có, bà Y đã giao nộp lại chiếc xe trên cho Cơ quan điều tra, đồng thời yêu cầu bị cáo vTua6n1 phải trả lại số tiền 4.500.000 đồng.

Ông Vũ Ngọc T2 khai: ông T2 là nhân viên tiệm C, địa chỉ: số B Â, Phường E, Quận A. Ngày 09/8/2024, Nguyễn Anh T mang xe máy hiệu Honda Vision, biển số 59K2-249.54 đến tiệm cầm đồ Long P cầm xe nhưng do T nói để quên giấy tờ xe ở nhà nên ông T2 không cầm xe mà chỉ cho T mượn 6.000.000 đồng và gửi chiếc xe trên lại tiệm cầm đồ và hẹn ngày 10/8/2024 mang giấy tờ xe tới làm thủ tục. Sau đó, ông T2 không thấy T mang giấy tờ xe đến làm thủ tục cầm đồ. Ông T2 không biết chiếc xe biển số 59K2-249.54 do T phạm tội mà có và đã giao lại chiếc xe trên cho Cơ quan điều tra.

Bà Lý Cẩm D khai là chủ tiệm cầm đồ tại địa chỉ B B H, Phường, Quận A. Ngày 06/8/2024, Nguyễn Anh T mang chiếc xe hiệu Wave S, biển số: 5486-4132 đến cầm và nói không có giấy tờ xe. Bà D không cầm xe mà chỉ đồng ý cho bị cáo T mượn 2.000.000 đồng và gửi chiếc xe máy biển số: 5456- 4132 lại tiệm cầm đồ và hẹn ngày 19/8/2024 bị cáo T mang giấy tờ xe đến làm thủ tục. Bà D không biết chiếc xe trên do bị cáo T phạm tội mà có và đã giao lại chiếc xe trên cho Cơ quan điều tra.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

  • 01 xe máy hiệu Wave biển số: 5456-4132. Kết quả xác minh do bà Trần Thị Kim T3, đứng tên đăng ký sử dụng. Ngày 23/07/2016, bà T3 đã uỷ quyền cho Lê Văn T1 tại Văn phòng C1, số A đường X, Phường B, Quận B. Ngày 06/08/2024, ông T1 sử dụng đi làm trong khuôn viên trường Đại học B1 và bị mất như trên. Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe trên cho ông Lê Văn T1.
  • 01 xe máy hiệu Honda vision biển số: 59K2-249.54. Kết quả xác minh xe do ông Lý Triệu K đứng tên đăng ký sử dụng. Ngày 11/06/2018, ông K đã uỷ quyền cho bà Đinh Thị Mai T4 tại Văn phòng C2, số C L, Phường A, Quận A. Bà T4 khai ngày 09/08/2024, bà T4 cho ông Dương Hoài B mượn xe trên để đi công việc và bị mất như trên. Cơ quan điều tra đã trả xe trên cho ông Dương Hoài B.
  • 01 xe máy hiệu Honda Winner, biển số: 59C1-814.95. Kết quả xác minh do Võ Tuấn K1 đứng tên đăng ký sử dụng. Ông K1 khai đã bán chiếc xe trên cho ông Nguyễn Trần Hiếu N với giá 22.500.000 đồng. Ngày 13/08/2024, ông N sử dụng đi làm và bị mất như trên. Cơ quan điều tra đã trao trả cho Nguyễn Trần Hiếu N.
  • 01 xe đạp hiệu Giant-ATX 810. Kết quả điều tra xác định là tài sản của ông Trần Tuấn Đ. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Trần Tuấn Đ.
  • 02 bản photo căn cước công dân mang tên Nguyễn Anh T, 01 tờ giấy viết tay nội dung gửi xe. Lưu hồ sơ vụ án.
  • 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, số điện thoại 0898.364.xxx là tài sản của Nguyễn Anh T không liên quan đến việc phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Về dân sự: ông Trần Tuấn Đ, Lê Văn T1, Nguyễn Trần Hiếu N, Dương Hoài B đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Bà Dương Thị Y yêu cầu bị cáo Nguyễn Anh T trả lại số tiền 4.500.000 đồng; bà Lê Cẩm D1, ông Vũ Ngọc T2 không yêu cầu T trả lại tiền cho mượn.

Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSQ10 ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Nguyễn Anh T về tội: “Trộm cắp tài sản” khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo: Nguyễn Anh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
  • Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
  • Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Công an Thành phố Q cơ sở Quận A), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Anh T đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của các bị hại trong việc quản lý tài sản chiếm đoạt xe máy hiệu Honda Wave S, biển số: 54S6-4132, trị giá 6.400.000 đồng; 01 chiếc xe máy hiệu Honda Vision, biển số 59K2-249.54 trị giá 18.000.000 đồng của ông Dương Hoài B; 01 chiếc xe máy hiệu Honda Winner, biển số: 59C1-814.95, trị giá 16.000.000 đồng; 01 chiếc xe đạp hiệu Giant-ATX 810, trị giá 6.000.000 đồng. Tổng tài sản bị cáo T chiếm đoạt trị giá 46.400.000 đồng. Do vậy, bị cáo Nguyễn Anh T bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T “Phạm tội 02 lần trở lên”. Xét thấy đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Dương Thị Y yêu cầu bị cáo Nguyễn Anh T trả lại số tiền 4.500.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường. Xét thấy việc bị cáo đồng ý là hoàn toàn tự nguyện. Do vậy Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với ông Trần Tuấn Đ, Lê Văn T1, Nguyễn Trần Hiếu N, Dương Hoài B đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Bà Lý Cẩm D, ông Vũ Ngọc T2 không yêu cầu T trả lại tiền. Do vậy Hội đồng xét xử không có gì để xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 bản photo căn cước công dân mang tên Nguyễn Anh T, 01 tờ giấy viết tay nội dung gửi xe. Lưu hồ sơ vụ án.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, số điện thoại 0898.364.xxx. Xét thấy đây là tài sản của Nguyễn Anh T không liên quan đến việc phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh T nhưng cần kê biên để đảm bảo việc thi hành án.

[6] [6] Về án phí (hình sự + dân sự) sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2024.

Miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Anh T.

Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải có trách nhiệm trả lại cho bị hại bà Dương Thị Y số tiền 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Kê biên để đảm bảo cho việc thi hành án đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, số điện thoại 0898.364.xxx của bị cáo Nguyễn Anh T. Trường hợp bị cáo Nguyễn Anh T đã thi hành xong nghĩa vụ dân sự và án phí thì trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, số điện thoại 0898.364.xxx cho bị cáo Nguyễn Anh T.

(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/02/2025 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc bị cáo Nguyễn Anh T chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Q.10; (2)
  • - Công an TP.HCM CSQ.10; (2)
  • - Chi cục THADS Q.10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Tuấn phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger