|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ———————————— |
|
Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 15 tháng 4 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo; Bà Huỳnh Thoại My My
- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Bưu điện phường N, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 18/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 28/3/2025 đối với các bị cáo:
- Trần Chí C, sinh năm 2000 tại thành phố C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Thanh C1 và bà Trần Thị T; Bị cáo có vợ tên Ngô Thị Kim N và có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: năm 2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo về hành vi “Cố ý gây thương tich”; ngày 23/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt ngày 27/4/2022. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực C, tỉnh An Giang từ ngày 18/12/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Huỳnh Quốc V, sinh năm 2002 tại thành phố C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ họ, tên) và bà Huỳnh Thị Á; Bị cáo có vợ tên Lê Mai Tuyết N1 và có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 29/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt ngày 11/01/2022; Bị cáo bị bắt tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực C, tỉnh An Giang từ ngày 18/12/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Võ Hoàng Thái H (H), sinh năm 1985 tại thành phố C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn H1 (chết) và bà Phạm Thị V1 (chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 11/4/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày22/10/2006; ngày 23/02/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 26/4/2014; ngày 04/4/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 07/6/2018; ngày 30/12/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 02 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 22/7/2022; năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 07/11/2024. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực C, tỉnh An Giang từ ngày 18/12/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Nguyễn Thị L, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Chung cư H, số B, đường C, phường A, quận A, Tp.Hồ Chí Minh. Vắng mặt
- Bùi Thùy L1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: số B, đường C, phường A, quận A, Tp.Hồ Chí Minh. Vắng mặt
- Nguyễn Thị H2, sinh năm 1992. Nơi cư trú: 34/21/29, đường V, khu phố B, phường A, quận A, Tp.Hồ Chí Minh. Vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Hoàng V2, sinh năm 2003. Nơi cư trú: tổ E, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Ú, Nguyễn Hoàng V2 (sinh ngày 19/7/2003), Trần Chí C, Huỳnh Quốc V và Võ Hoàng Thái H là những người hành nghề bán nhang, đèn, muối, gạo dạo tại Khu D. Để chiếm đoạt tiền của du khách, Ú, V2, C, V và H cùng nhau, tiếp cận giả vờ mang vật phẩm của khách đã mua trước đó đến Miếu Bà cho khách cúng, lợi dụng sơ hở, sẽ đưa thêm các vật phẩm khác vào số vật phẩm mà khách đã mua trước đó. Sau đó, cả nhóm thực hiện hành vi cưỡng ép, dùng lời nói, đe dọa và số đông uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt tiền của du khách. Bằng thủ đoạn trên, khoảng 15 giờ ngày 12/5/2019, Ú, V2, C, V và H đang bán nhang, đèn dạo tại khu vực ngã ba bưu điện N thì thấy Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị L và Bùi Thùy L1 (khách hành hương) từ nhà trọ “Số 4” (thuộc tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang) đến sạp bán vật phẩm phía trước nhà trọ “Số 4” để mua vật phẩm cúng Bà. Lúc này, V2, Ú chủ động đến tiếp cận giả vờ giúp nhóm của chị H2 mang vác số đồ vật đã mua đến Miếu B để nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của nhóm chị H2. Thấy V2, Ú đến lấy vật phẩm đi, nhóm chị H2 tưởng là người của tiệm tiếp khách mang vác vật phẩm đã mua đến chỗ cúng Bà nên không nghi ngờ gì. Thấy V2, Ú đã tiếp cận mang vật phẩm cho nhóm chị H2 nên C, V và H cùng đi theo để giúp sức nhằm mục đích được V2, Ú chia tiền chiếm đoạt từ khách. Trên đường đi, V2 ghé vào sạp bán vật phẩm phía trước nhà trọ “Phương Tiện” mua 02 ốp nhang ba cây giá 20.000 đồng, 02 cặp vàng thỏi bằng nhựa giá 160.000 đồng và 02 mâm giấy tiền vàng bạc giá 80.000 đồng rồi để chung vào số vật phẩm mà nhóm của chị H2 đã mua trước đó đem đến Miếu B1 để cúng. Sau khi cúng xong, nhóm của chi H2 đi bộ từ Miếu B1 về nhà trọ “Số 4” thì V2, Ú đi theo kêu nhóm chị H2 đi vào sạp bán vật phẩm “Phương Tiện” và yêu cầu trả tiền số vật phẩm đã để thêm vào, cụ thể: 02 ốp nhang ba cây với giá 1.620.000 đồng; 02 cặp thỏi vàng bằng nhựa với giá 1.200.000 đồng; 02 mâm giấy tiền vàng bạc với giá 1.080.000 đồng. Tổng số tiền nhóm Ú và V2 yêu cầu nhóm của chị H2 phải trả là 3.900.000 đồng. Khi thấy nhóm của chị H2 không đồng ý trả tiền và cự cãi với Ú, V2 thì C, V, H bước đến đứng gần dùng số đông uy hiếp tinh thần bị hại, đồng thời dùng lời lẽ tác động cho nhóm của H2 trả tiền cho V2, Ú. Do sợ bị nhóm của V2, Ú đánh nên nhóm của chị H2 đã đưa 3.900.000 đồng cho nhóm của Ú, V2. Sau khi lấy được tiền, V2 trả tiền mua vật phẩm cho chủ tiệm “Phương Tiện” 460.000 đồng, tiêu xài chung trong nhóm 140.000 đồng, V2 tự giữ lấy số tiền 800.000 đồng, còn lại 2.500.000 đồng, V2 đưa cho C để chia cho Ú, V và H. Sau đó, C chia cho H 400.000 đồng, C, Ú, V mỗi người 700.000 đồng thì bị Công an phường N mời làm việc. Sau khi sự việc bị phát hiện, V2 đã giao nộp số tiền 800.000 đồng, C giao nộp số tiền 2.100.000 đồng.
Cáo trạng số: 34/CT-VKSCĐ ngày 17/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Trần Chí C, Huỳnh Quốc V, Võ Hoàng Thái H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử,
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Chí C, bị cáo Võ Hoàng Thái H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, bị cáo Huỳnh Quốc V từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xét đến.
Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, đã ăn năn hối cải về hành vi vừa qua.
Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày như nội dung như Cáo trạng truy tố. Các bị hại đã nhận lại số tiền 2.900.000 đồng, không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm về thiệt hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, không lý do. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai, làm rõ các tình tiết trong vụ án nên việc vắng mặt nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Ngày 12/5/2019, các bị cáo Trần Chí C, Huỳnh Quốc V, Võ Hoàng Thái H thừa nhận cùng với Nguyễn Hoàng V3, Nguyễn Văn Ú thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng việc mua thêm vật phẩm thờ cúng đưa vào vật phẩm của bị hại đã mua trước đó, đồng thời tạo sự hỗ trợ cho bị hại mang lễ vật lên cúng tại Miếu B1 và dùng thủ đoạn đe dọa, uy hiếp tinh thần buộc các bị hại phải trả số tiền 3.900.000 đồng để chia nhau tiêu xài. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và người tham gia tố tụng khác cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Đối với Nguyễn Hoàng V2, sinh ngày 19/7/2003, tại thời điểm phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, riêng Nguyễn Văn Ú đã bị bệnh chết vào ngày 20/8/2024 nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với Ú, V2 là có căn cứ.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Các bị cáo C, H là người đã trưởng thành, riêng bị cáo V tại thời điểm phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nhưng khỏe mạnh, nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân. Các bị cáo biết hành vi trên là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội bằng thủ đoạn tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ du khách hành hương mang lễ vật lên cúng tại Miếu B1 nhưng thực chất các bị cáo tìm cách tiếp cận bị hại để uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động du lịch, văn hóa tín ngưỡng tại khu D và lễ hội vía Bà Chúa Xứ Núi Sam, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân cả nước đến tham quan, du lịch, đồng thời gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có không có tình tiết tăng nặng tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thuộc trường hợp người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có trình độ học vấn thấp, riêng bị cáo C, V được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ thuộc trường hợp tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt cho các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Chí C, Huỳnh Quốc V, Võ Hoàng Thái H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
[1] Về hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Chí C 02(hai) năm 09(chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Hoàng Thái H 02(hai) năm 09(chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc V 01(một) năm 09(chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2024.
[2] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo C, H, V, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Nam |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC-TỈNH AN GIANG về cưỡng đoạt tài sản (criminal case)
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC-TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Chí C và đồng phạm phạm tội cưỡng đoạt tài sản
