TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 40/2025/HS-ST
Ngày 11-12-2025
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Mạnh Lưu.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Tuấn
- Bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 17/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 27/11/2025, đối với bị cáo:
Trương Công C, sinh ngày 04/8/1998 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn A, xã L, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Ngọc Ứ và bà Nguyễn Thị Ái N; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.
- Bị hại: Ông Mai H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn N, xã L, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Hoàng Thế H1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn V, xã L, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt
- Anh Lê Quý D, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn L, xã L, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 01 tháng 8 năm 2025, Trương Công C đang ở nhà riêng của mình thì C để ý sang nhà ông ngoại của mình là ông Nguyễn Văn N1 (sát bên nhà C) có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Ware Alpha, màu trắng gắn biển kiểm soát 75F1-881.24 để ở trước sân, đây là xe của ông Mai H đến nhà bố vợ là ông N1 để ngủ lại qua đêm. Lợi dụng lúc khuya tối vắng người, cổng nhà ông N1 không khóa nên C nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe mô tô của ông Mai H để làm phương tiện đi lại. C lén lút đi vào đường cổng chính rồi dắt chiếc xe ra khỏi nhà ông N1 đến để trước mặt đường nhà C ở đường L, khóm A, xã L, tỉnh Quảng Trị.
Đến khoảng 04 giờ 00 phút cùng ngày, C tháo biển số xe 75F1-881.24 rồi cất biển số vào nhà, sau đó dắt xe đến tiệm sửa xe “Hảo” ở khóm V, xã L đợi đến 06 giờ thì quán mở cửa, C nói anh H1 tháo giỏ phía trước dè chắn bùn và nối dây nguồn điện để khởi động xe, xong việc C trả cho anh H1 20.000 đồng tiền công và tiếp tục dắt xe đi khoảng 500 mét, đến khu vực giao nhau giữa đường N và đường C ở khóm V, xã L, tỉnh Quảng Trị thì gặp anh Lê Quý D đang đi cắt khóa xe lưu động, C gọi anh D lại cắt 1 chìa khóa cho xe mô tô mà C đã lấy trộm, sau đó trả cho D 20.000 tiền công rồi đi đến quán gần đó để uống cà phê.
Khoảng 05 giờ cùng ngày, ông H phát hiện xe mô tô của mình bị mất nên đến công an xã L trình báo. Quá trình làm việc với cơ quan chức năng, Trương Công C đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm của mình và đã giao nộp tài sản, đồ vật và tài liệu liên quan, gồm: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, 01 biển kiểm soát 75F1-881.24 bằng kim loại, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 075292, 01 giỏ kim loại màu đen và 01 chìa khoá.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 2425/KL-HĐĐGTS ngày 10/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự tỉnh Quảng Trị kết luận: Trị giá của 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, sơn màu trắng, có số máy JA39E1574767, số khung RLHJA3917LY236911, biển số đăng ký 75F1-881.24, xe đã qua sử dụng có giá trị là 12.334.000 đồng.
Quá trình điều tra, xác định xe mô tô biển kiểm soát 75F1-881.24 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Mai Hữu . Ông H đã mua lại của ông Trương Minh T sinh năm 1999. Nơi cư trú: Số A T, phường P, thành phố H về để sử dụng.
Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho ông Mai H: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave có số máy JA39E1574767, số khung RLHJA3917LY236911, màu sơn trắng, dung tích xilanh: 109 cm³, xe đã qua sử dụng; 01(một) biển kiểm soát được làm bằng kim loại, nền màu trắng, chữ số màu đen, có in nổi số và chữ: 75F1-881.24, đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 075292, do Công an thành phố H cấp ngày 27/8/2020 và 01 (một) giỏ kim loại màu đen, đã qua sử dụng.
Tạm giữ: 01 (một) chìa khoá bằng kim loại màu bạc dài 8,5 cm, có phần cán bằng nhựa màu đen, trên phần cán có logo chữ Honda
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường dân sự.
Bản cáo trạng số: 11/CT-VKS-KV7 ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Trương Công C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trương Công C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Công C từ 06 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên không đặt vấn đề giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 chìa khoá bằng kim loại màu bạc dài 8,5 cm, có phần cán bằng nhựa màu đen, trên phần cán có logo và chữ H2, đã qua sử dụng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Trương Công C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 01/8/2025 bị cáo Trương Công C đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà ông Nguyễn Văn N1 tại A đường L, thôn A, xã L, tỉnh Quảng Trị để lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số đăng ký 75F1-881.24, xe đã qua sử dụng. Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Trị đã kết luận: Trị giá 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave có số máy JA39E1574767, số khung RLHJA3917LY236911, màu sơn trắng, biển số đăng ký 75F1-881.24, xe đã qua sử dụng, có trị giá: 12.334.000 đồng (Mười hai triệu, ba trăm ba mươi bốn nghìn đồng). Hành vi của Trương Công C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4]. Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm các bị cáo mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt thấy rằng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật lần nào, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tài sản đã được thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên cần xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” nhưng bị xử phạt tù, cho hưởng án treo. Nên cần áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự để huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 75F1-881.24 là của ông Mai H, mua lại của ông Trương Minh T để sử dụng, các bên có lập giấy tờ mua bán nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho ông Mai H: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave có số máy JA39E1574767, số khung RLHJA3917LY236911, màu sơn trắng, dung tích xilanh: 109 cm³, xe đã qua sử dụng; 01(một) biển kiểm soát được làm bằng kim loại, nền màu trắng, chữ số màu đen, có in nổi số và chữ: 75F1-881.24, đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 075292, do Công an thành phố H cấp ngày 27/8/2020 và 01 (một) giỏ kim loại màu đen, đã qua sử dụng là có cơ sở.
Đối với chìa khoá bằng kim loại màu bạc dài 8,5 cm, có phần cán bằng nhựa màu đen, trên phần cán có logo chữ Honda, đã qua sử dụng, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
[7]. Các vấn đề khác: Đối với anh Hoàng Thế H1 và Lê Quý D không biết xe mô tô mà C đưa đến để sửa và cắt khoá là tài sản do trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm pháp lý.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Trương Công C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trương Công C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Xử phạt bị cáo Trương Công C 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/12/2025).
Giao bị cáo Trương Công C cho Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp bị cáo Trương Công C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 chìa khoá bằng kim loại màu bạc dài 8,5 cm, có phần cán bằng nhựa màu đen, trên phần cán có logo và chữ H2, đã qua sử dụng.
Vật chứng do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.
Buộc bị cáo Trương Công C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Mạnh Lưu
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Quảng Trị;
- - VKSND tỉnh Quảng Trị;
- - CA tỉnh Quảng Trị;
- - VKSND khu vực 7;
- - Phòng THA.DS khu vực 7;
- - CQ THAHS CA tỉnh Quảng Trị;
- - Bị cáo, bị hại; NCQLVNVLQ
- - Hồ sơ Thi hành án hình sự;
- - UBND xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị;
- - Lưu HSVA; Lưu Tô HCTP.
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Công Chiến - Trộm cắp tài sản
