|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/HS-ST
Ngày: 05/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuân
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Hồ Thị Kim Luyến
- 2. Bà Nguyễn Minh Phương
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: CAO TẤN T; Giới tính: Nam;
- - Sinh ngày 07 tháng 03 năm 1996; Nơi sinh: Cần Thơ;
- Nơi cư trú và chỗ ở: 1 N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ
- - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
- - Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê;
- - Họ và tên cha: Cao Thanh V; sinh năm: 1976
- - Họ và tên mẹ: Lê Thị M; sinh năm: 1976
- - A, chị, em ruột: Có 01 em ruột; sinh năm: 2003;
- - Bị cáo chưa có vợ con
- - Tiền án: Chưa
- - Tiền sự: 01 lần. Ngày 25/3/2024 bị Công an phường T, quận N xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức được thua bằng tiền. Đã đóng phạt).
- - Bị cáo bị tạm giam ngày 10/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- * Bị hại:
- Bà Huỳnh Thị Minh S, sinh năm: 1983. Có mặt
- Bà Lê Thị N, sinh năm: 1976. Có mặt
- Ông Bùi Hữu B, sinh năm: 1975. Có mặt
Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ: ấp F, TT K, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Văn V1, sinh năm: 1976 và bà Lê Thị M, sinh năm: 1976. Có mặt
Cùng địa chỉ: 1 N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Tấn T là hạ sĩ quan nghĩa vụ, được phân công công tác tại Đội Cảnh sát Thi hành án Hình sự và Hỗ trợ Tư pháp, Công an quận N, thành phố Cần Thơ từ ngày 27/5/2022. Đến ngày 15/02/2024 có Quyết định cho Cao Tấn T xuất ngũ. Trong khoảng thời gian công tác tại Đội Cảnh sát Thi hành án Hình sự và Hỗ trợ Tư pháp, Công an quận N, thành phố Cần Thơ (từ tháng 4/2023 đến tháng 02/2024) Cao Tấn T đã nhiều lần tiếp xúc, gợi ý, nhận tiền từ gia đình của phạm nhân và hứa hẹn sẽ lo cho phạm nhân được chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an quận N nhưng T không thể thực hiện, được cụ thể:
Vụ 1: Vào tháng 4/2023 Lê Ngọc H bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Cần Thơ về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chị Huỳnh Thị Minh S là mẹ ruột của Lê Ngọc H đến Nhà tạm giữ Công an quận N để thăm nuôi và gửi đồ ăn, trong quá trình đi thăm nuôi thì chị S quen biết được Cao Tấn T đang làm việc tại Nhà tạm giữ. Sau đó, T chủ động điện thoại cho chị S hỏi thăm và hẹn gặp chị S tại một quán cà phê trên đường N nối dài gần cầu R. Tại quán cà phê này thì T hỏi chị S là có muốn lo cho H về sớm hoặc là được chấp hành án tại trại giam R không, chị S nói là có muốn thì T hỏi chị S có lo được số tiền 17.000.000 đồng không, chị S đồng ý. Đến ngày 03/10/2023, T điện thoại yêu cầu chị S chuyển trước 1.000.000 đồng khi nào lo đủ 17.000.000 đồng thì chuyển tiếp. Chị S đồng ý và kêu con gái là Lê Huỳnh Ngọc Y chuyển 1.000.000 đồng vào số tài khoản 0796902196 mở tại ngân hàng M1 tên CAO TAN TAI. Đến ngày 05/10/2023, thì chị S tiếp tục chuyển cho T thêm 17.000.000 đồng tiền để lo cho H, khi nhận được tiền thì T sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Sau đó từ đầu tháng 10/2023 đến cuối tháng 11/2023 thì T nói giấy tờ bị trục trặc và nhiều lý do khác yêu cầu chị S chuyển thêm tiền, và chị S đã kêu Y thực hiện chuyển khoản thêm 08 lần nữa, lần thấp nhất 500.000 Đồng, lần cao nhất là 2.500.000 đồng. Đến ngày 03/12/2023 thì T tiếp tục kêu chị S chuyển thêm 5.000.000 đồng để đưa cho người sếp nào đó lo cho con chị S được về sớm, thấy vậy thì chị S có nhờ Lê Hữu P là hàng xóm của chị S chuyển cho T 5.000.000 đồng. Sau đó thì T có điện thoại nói chuyện với chị S và hứa ngày 16/02/2024 H sẽ được về, chị S hứa sẽ cho T thêm 15.000.000 đồng nếu H được về vào ngày 16/02/2024. Đến ngày 16/02/2024 thì H vẫn chưa được về nên chị S có nhiều lần điện thoại cho T để hỏi thăm thì T cứ nói chị S yên tâm. Đến khoảng tháng 6/2024 thì T nói với chị S là không lo được và hứa sẽ trả lại cho chị S số tiền 34.000.000 đồng đã nhận từ chị S. Khoảng 03 ngày sau thì chị S điện thoại cho T nhưng không liên lạc được, tài khoản Zalo thì T đã khóa, chị S không liên lạc và không tìm được T. Đến ngày 20/9/2024 thì chị S đến cơ quan Công an để trình báo sự việc.
Vụ 2, vụ 3: Vào khoảng tháng 11/2023, Bùi Thế S1 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Cần Thơ về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bà Lê Thị N là mẹ ruột của Phạm Tấn S2 bị cáo trong cùng vụ án với Bùi Thế S1. Tháng 12/2023 thì bà N có nói chuyện với T về việc muốn xin cho S2 được chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an quận N sau khi có bản án, T đồng ý và hẹn gặp bà N tại cầu Q, do không biết đường nên bà N nhờ ông Bùi Hữu B dẫn bà N đến đứng trước nhà hàng Q1 để gặp T, tại đây thì bà N hỏi T có giúp S2 được chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an quận N không thì T nói giúp được, bà N hỏi khoảng bao nhiêu tiền thì T nói là 17.000.000 đồng, sau đó T hỏi ông B có muốn lo cho S1 ở lại không và cũng báo giá 17.000.000 đồng. Bà N và ông B chưa trả lời ngay mà về nhà bàn bạc với gia đình. Sau khi bàn bạc xong thì ông B đồng ý đưa tiền cho T để lo cho S1 được chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an quận N, nhưng hoàn cảnh khó khăn không thể đưa hết một lần nên xin T được đưa làm nhiều lần, T đồng ý và hẹn gặp tại quán cà phê trên đường N, phường T để giao nhận tiền. Tại quán cà phê này bà N và ông B mỗi người đưa cho T 10.000.000 đồng, sau đó thì T lấy lý do tiếp khách và việc cho S1 nên yêu cầu ông B đưa tiền. Ông B đưa thêm nhiều lần với tổng cộng số tiền là 12.500.000 đồng, bà Lê Thị N cũng đưa cho T tổng số tiền 12.200.000 đồng. Sau khi nhận được tiền thì T có yêu cầu ông B và bà N chụp gửi ảnh khai sinh và căn cước công dân của cha, mẹ phạm nhân. Sau đó do lo lắng nên nhiều lần ông B và bà N điện thoại hỏi T có giúp được không thì T hứa chắc chắn sẽ giúp được, T nói không tin thì cứ hỏi ông Q trưởng Nhà tạm giữ. Vào ngày 20/4/2024 khi đi thăm nuôi S1 thì ông B có gặp trực tiếp ông Q để hỏi về việc T hứa giúp con ông được chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an quận N thì ông Q trả lời không biết vụ việc này, ông Q gọi điện thoại cho T thì T không nghe máy, ông Q hướng dẫn ông B viết đơn trình báo sự việc. Sau đó ông B nhiều lần điện thoại cho T nhưng không được, tìm đến nhà của T thì gặp được mẹ của T, nhưng thời gian dài không thấy T có động thái trả lại tiền cho mình nên ông B và bà N làm đơn tố cáo sự việc đến Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Cần Thơ.
Trước Cơ quan điều tra, Cao Tấn T khai nhận có nhận của ông Bùi Hữu B số tiền 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng), của bà Huỳnh Thị Minh S số tiền 34.000.000 đồng (Ba mươi bốn triệu đồng), của bà Lê Thị N số tiền 12.200.000 đồng (Mười hai triệu hai trăm nghìn đồng) để giúp lo cho Bùi Thế S1 là con ông B, Lê Ngọc H là con bà S và Phạm Tấn S2 là con bà N được chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an quận N. Sau khi nhận tiền của ông B, bà S2 và bà N thì T sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân và bản thân T không có mối quan hệ và không quen biết ai, không đảm nhận chức vụ, chức năng gì liên quan đến chấp hành án để lo cho con của ông Bùi Hữu B, bà Huỳnh Thị Minh S và bà Lê Thị N giảm án và chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an quận N.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã tự gặp thỏa thuận và khắc phục cho anh Bùi Hữu B số tiền 12.500.000 đồng, bà Lê Thị N số tiền 12.200.000 đồng, bà Huỳnh Thị Minh S số tiền 34.000.000 đồng. Phía anh B, bà N, bà S có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo chưa tiền án, thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi, gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSNK ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đã truy tố bị cáo Cao Tấn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để tạo điều kiện cho các bị cáo sớm trở về gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều phát biểu quan điểm: Bị cáo Cao Tấn T có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội do bản thân thực hiện. Trong khoảng từ tháng 4/2023 đến tháng 02/2024, Cao Tấn T đã thực hiện hành vi gian dối với thủ đoạn là lợi dụng công việc được phân công tại Nhà tạm giữ Công an quận N sau đó đưa ra thông tin gian dối tạo lòng tin rồi chiếm đoạt tiền của chị Huỳnh Thị Minh S là 34.000.000 đồng; anh Bùi Hữu B là 12.500.000 đồng và của bà Lê Thị N là 12.200.000 đồng, sau đó tiêu xài cá nhân. Hành vi của Cao Tấn T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, vì vậy bị cáo T phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải việc, gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả đã làm nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Đề nghị áp dụng: Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2 Điều 174, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Cao Tấn T mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Đối với số tiền những người bị hại đã nhận lại từ người nhà của bị cáo đề nghị buộc bà N, bà S và ông B phải nộp lại để sung công vì giao dịch dân sự giữa bị cáo với các bị hại là bất hợp pháp.
Riêng ý kiến những người bị hại B, N và S đều không thống nhất nộp lại, vì các người bị hại đều cho rằng gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả thay cho bị cáo do hình vì bị cáo đã làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của những người bị hại.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: không có ý kiến gì đối với số tiền 58.700.000 đồng đã tự nguyện nộp thay cho bị cáo để bồi thường thiệt hại cho những người bị hại N, S và B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Cao Tấn T tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai người bị hại, người có liên quan được thu thập hợp pháp và thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Mặc dù không đảm nhận chức vụ gì liên quan đến chấp hành án của bị án tại Nhà tạm giữ Công an quận N, thành phố Cần Thơ nhưng trong khoảng thời gian công tác tại Đội cảnh sát thi hành án hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Cao Tấn T đã thực hiện hành vi gian dối với thủ đoạn là lợi dụng công việc được phân công, sau đó đưa ra thông tin gian dối tạo lòng tin hứa hẹn, nhận tiền và hứa giúp rồi chiếm đoạt tiền của Huỳnh Thị Minh S là 34.000.000 đồng, Bùi Hữu B là 12.500.000 đồng và của Lê Thị N là 12.200.000 đồng, sau đó sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Tổng số tiền bị cáo Cao Tấn T đã lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại là 58.700.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Cao Tấn T thực hiện đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Cao Tấn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ; đúng người, đúng tội.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Cao Tấn T không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như sau: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của Viện kiểm sát, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, gia đình bị cáo đã thay bị cáo bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên các bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử thống nhất bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo chưa tiền án. 01 lần tiền sự. Ngày 25/3/2024 bị Công an phường T, quận N xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức được thua bằng tiền. Bị cáo đã đóng phạt.
Do đó, Hội đồng xét xử xem xét có mức án phù hợp tương xứng hành vi bị cáo, cần có hình phạt nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục cho bị cáo biết chấp hành đúng quy định pháp luật và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về xử lý vật chứng: Số tiền 58.700.000 đồng các bị hại đã giao cho bị cáo thì xác định tiền do phạm tội mà có nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên buộc bị cáo phải nộp ngân sách nhà nước.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã tự gặp thỏa thuận và khắc phục cho anh Bùi Hữu B số tiền 12.500.000 đồng, bà Lê Thị N 12.200.000 đồng, bà Huỳnh Thị Minh S số tiền 34.000.000 đồng, Tại phiên tòa các bị hại, người liên quan không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố: Bị cáo Cao Tấn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Áp dụng: Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 47, Điều 106, Điều 136, Điều 299, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Xử phạt: Bị cáo Cao Tấn T, mức án 02 (hai) năm tù.
- - Về xử lý vật chứng: Buộc bị cáo phải nộp ngân sách nhà nước số tiền do phạm tội mà có 58.700.000 đồng
- - Về trách nhiệm dân sự: không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Bị cáo, người bị hại, người liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày 10 tháng 10 năm 2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hồ Mỹ Xuân |
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Tấn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
