|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 40/2025/HS-PT Ngày 25 - 6 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ứng
Các Thẩm phán: Ông K'Tiêng và ông Quách Trọng Sơn
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 45/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn T và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Trần Văn T, sinh năm 1982 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Khu phố C, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; nơi ở trước khi phạm tội: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Trần Văn T1 và bà Lâm Thị L (đều đã chết); có vợ là Lê Thị T2 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-12-2023 đến ngày 07-01-2024; tại ngoại - Có mặt.
- Bùi Văn M (tên gọi khác: Mạnh Đu B1) sinh năm 1993 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Bon N, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn H và bà Đỗ Thị D; có vợ là Huỳnh Thị T3 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tại ngoại - Có mặt.
- Hà Văn S, sinh năm 1990 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; chỗ ở trước khi phạm tội: B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Hà Mạnh C và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Vũ Thị H2 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-12-2023 đến ngày 28-12-2023; tại ngoại - Có mặt.
- Trần Tiến D1, sinh năm 1997 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Bon N, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T4 (đã chết) và bà Đinh Thị N; có vợ là Nguyễn Thị L1 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-12-2023 đến ngày 09-01-2024; tại ngoại - Có mặt.
- Bùi Văn M (tên gọi khác: T5), sinh năm 1995 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con bà Bùi Thị V (không rõ họ tên cha); có vợ là Văn Thị H3 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-12-2023 đến ngày 09-01-2024; tại ngoại - Có mặt.
- Đặng Đình V1, sinh năm 1998 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký thường trú: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nơi ở hiện nay: B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; ; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đặng Đình T6 và bà Nguyễn Thị C1; có vợ là Đặng Thị Hồng H4 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Bản án số 47/2023/HS-ST ngày 25-10-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; tại ngoại - Vắng mặt.
- Nguyễn Văn N1, sinh năm 1995 tại tỉnh Phú Thọ; nơi đăng ký thường trú: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn M1 và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Lê Thị Thu T7 và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 23-9-2023 của Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; tại ngoại - Có mặt.
- Phạm Văn T8, sinh năm 1977 tại tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn I, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn L2 và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là Lê Thị T9 và 02 con; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2013/HS-ST ngày 16-10-2013 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông xử phạt 20.000.000 đồng tội “Đánh bạc”, đã chấp hành bản án, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-12-2023 đến ngày 28-12-2023; tại ngoại - Vắng mặt.
- Đào Văn D2, sinh năm 1981 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Đào Văn D3 và bà Lâm Thị N2; có vợ là Đặng Thị P (đã ly hôn) và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 20-12-2023 đến ngày 28-12-2023; tại ngoại - Có mặt.
- Cao Thị L3 (tên gọi khác: L1), sinh năm 1982 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Bon K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Cao Văn C2 và bà Nguyễn Thị Đ1; có chồng là Lê Xuân H5 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-12-2023 đến ngày 28-12-2023; tại ngoại - Vắng mặt.
- Nguyễn Thị H6, sinh năm 1967 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp D, trị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước; nơi ở trước khi phạm tội: Tổ C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn  và bà Đào Thị T10 (đều đã chết); có chồng là Đỗ Văn M2 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-12-2023 đến ngày 28-12-2023; tại ngoại - Vắng mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo Bùi Văn M (M đu bai), Phạm Văn T8, Bùi Văn M (M), Đào Văn D2, Hà Văn S, Trần Văn T, Cao Thị L3 và Đặng Đình V1: Ông Bùi Quang T11 (vắng mặt) và ông Huỳnh Đ2 (có mặt), Luật sư của Văn phòng L7 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: Tổ B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Người làm chứng:
- - Ông Đoàn Văn T12; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Bá V2; địa chỉ: Khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ - Vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Văn K; địa chỉ: Bon A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
Trong vụ án còn có 04 bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 12-2023, Trần Văn T gặp Bùi Văn M (tên gọi khác: Mạnh Đu B), Đặng Đình V1, Trần Tiến D1 và một số người khác (không rõ nhân thân lai lịch). Trong lúc uống cà phê, có người (không rõ nhân thân lai lịch) đề cập việc tổ chức đánh bạc để thu tiền xâu kiếm lợi nhuận. Nghe vậy thì T và M đồng ý thống nhất tổ chức đánh bạc. T nhờ M đứng ra tìm người chạy xe ôm chở các con bạc và người phục vụ đánh bạc. Còn T cung cấp bộ dụng cụ xóc đĩa (gồm bát nhựa, đĩa sứ và bộ dụng cụ cắt quân vị, các bộ bài tú lơ khơ) và chuẩn bị một số vật dụng khác để chuẩn bị cho việc tổ chức đánh bạc như các tấm bạt, ghế nhựa.... Sau mỗi lần đánh bạc, T nhận số tiền xâu thu được rồi trích ra trực tiếp trả tiền công cho M và những người tham gia tổ chức đánh bạc khác.
Sau khi kết thúc đánh bạc vào ngày 17-12-2023 T nói chuyển địa điểm đánh bạc mới. Do đó, khoảng 08 giờ ngày 18-12-2023, M nói Trần Tiến D1 đi tìm địa điểm đánh bạc. D1 đồng ý và gọi cho Đặng Đình V1 đi cùng. Nghe vậy, V1 rủ thêm Nguyễn Văn N1 rồi D1, V1, N1 bắt đầu tìm kiếm và chọn được địa điểm tại lô 10, khoảnh 4, tiểu khu A lâm phần do Đoàn kinh tế Quốc phòng Q quản lý thuộc địa giới hành chính thôn Đ, xã Q rồi D1 báo cho Mạnh Đ3 Bai biết về địa điểm tổ chức đánh bạc mới và Mạnh Đu B thông báo lại cho T. Sau đó, D1, V1, N1 quay lại địa điểm đánh bạc cũ thu dọn đồ dùng phục vụ đánh bạc. Lúc này, có thêm Lâm Văn L4, Bùi Văn M (tên gọi khác là T5) và T13, L5, N3 (không rõ nhân thân lai lịch) đến tham gia chuyển đồ qua địa điểm mới. Một lúc sau, Mạnh Đu B cùng Nguyễn Văn K đến địa điểm đánh bạc. Tại đây, cả nhóm tiến hành phát dọn, chuẩn bị địa điểm và đón người đến tham gia đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày thì tất cả nghỉ ra về. T trích từ tiền xâu nhận được đưa cho Mạnh Đu Bai tiền công chuẩn bị địa điểm, phục vụ đánh bạc là 2.400.000 đồng, Mạnh Đu B1 giữ lại 800.000 đồng và đưa cho V1 và N1 mỗi người 800.000 đồng.
Khoảng 11 giờ ngày 19-12-2023, nhóm của T và Mạnh Đu B1 thống nhất tiếp tục đến đánh bạc tại địa điểm đã chơi vào ngày 18-12-2023. Khoảng 12 giờ cùng ngày, T nói Hà Văn S (người giúp T quản lý bộ D5) mang theo balo màu đen bên trong có dụng cụ phục vụ đánh bạc đến địa điểm đánh bạc. Sau đó, S đi cùng Đoàn Văn T12 và D3 (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến địa điểm đánh bạc.
Khoảng 30 phút sau, Phạm Văn T8 điều khiển xe ô tô BKS 49A-514.59 chở T, Nguyễn Bá V2 (sinh năm 1988) và K1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến địa điểm đánh bạc. Nguyễn Đỗ T14 điều khiển xe ô tô BKS 15A-990.36 chở Nguyễn Thị H6, Cao Thị L3, Nguyễn Minh T15. Thế A (chưa rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe ô tô (không rõ biển kiểm soát) chở Đoàn Văn A1, Đào Văn D2 đến tham gia đánh bạc. Khi đi đến khu vực ngã 3 (cách địa điểm đánh bạc khoảng 50 m) thì gặp D2, M (T), T13 và 02 người (không rõ nhân thân lai lịch) đang đứng đợi để chở những người đến tham gia đánh bạc vào địa điểm đánh bạc. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi tất cả tập trung đông đủ và thống nhất đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, thì S mang bộ dụng cụ xóc đĩa đặt giữa chiếu bạc. Sau đó, người tên C3 cầm dụng cụ để bấm con vị, 01 người làm cái và 02 “Hồ lỳ”, là người thu tiền xâu (đều không rõ nhân thân lai lịch) để bắt đầu đánh bạc. Trong lúc đánh bạc, Mạnh Đu B nói V1, N1 đi xung quanh chiếu bạc và quan sát không cho người đánh bạc quay phim, chụp hình để cảnh giới, còn Lâm Văn L4 bán nước phục vụ cho người tham gia đánh bạc.
Hình thức chơi như sau: Người chơi chuẩn bị bộ dụng cụ là 01 cái bát, 01 cái đĩa, 04 quân vị có mỗi mặt một màu (được cắt từ quân bài tú lơ khơ). Nhà cái sẽ tiến hành bỏ quân vị vào đĩa, rồi úp bát lại và tiến hành xóc. Những người tham gia cần dự đoán các mặt ngửa của quân vị để tiến hành đặt cược trước khi bát được mở ra. Có 02 lựa chọn cho người chơi đặt là: Chẵn và L6. Chẵn là có 04 quân vị hoặc 02 quân vị cùng màu. Lẻ là 03 quân vị khác màu với 01 quân vị còn lại. Khi người cầm cái mở bát, nếu người chơi nào đặt cược đúng sẽ được số tiền đã đặt cược, ngược lại nếu đặt cược sai sẽ mất hết số tiền đã cược cho nhà cái. Mức đặt cược tụ riêng thấp nhất là 500.000 đồng, những ai đặt cược ké (đặt chung) vào tụ của con bạc khác, thì mức thấp nhất là 200.000 đồng, không giới hạn mức độ đặt cược cao nhất. Ngoài ra, quy định ván nào ai thắng cược mà kết quả các con vị “3 mặt đen” hoặc “3 mặt đỏ” thì “Hồ lỳ” ngồi ở hai đầu đi thu tiền xâu với số tiền 50.000 đồng/1.000.000 đồng tiền đặt cược mỗi người.
Trước khi đánh bạc, T có 6.000.000 đồng, Mạnh Đu B có 2.500.000 đồng, T8 có 11.000.000 đồng, D2 có 5.000.000 đồng, Văn A1 có 700.000 đồng, T15 có 1.000.000 đồng, L3 có 3.000.000 đồng, H6 có 2.000.000 đồng để đánh bạc. T14 mượn của T 3.000.000 đồng để đánh bạc, chưa trả cho T. Còn số tiền T14 mang theo 6.700.000 đồng trong người không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tất cả đánh bạc đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang, thu giữ nhiều tang vật có liên quan.
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 06-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong đã quyết định: Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T và Bùi Văn M (Mạnh Đu B) phạm các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.
Các bị cáo Hà Văn S, Trần Tiến D1, Bùi Văn M (T), Đặng Đình V1, Nguyễn Văn N1 và Lâm Văn L4 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Các bị cáo Phạm Văn T8, Nguyễn Đỗ T14, Đào Văn D2, Đoàn Văn A1, Nguyễn Minh T15, Cao Thị L3 và Nguyễn Thị H6 phạm tội “Đánh bạc”.
1.1. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 năm (Một) 06 (S1) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (Bốn) năm 09 (Chín) tháng tù.
1.2. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn M (Mạnh Đu B) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn M (Mạnh Đu B) 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Bùi Văn M (Mạnh Đu B) phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù.
1.3. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn S 01 (Một) năm tù.
1.4. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Tiến D1 01 (Một) năm tù.
1.5. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn M (Mạnh Ti) 01 (Một) năm tù.
1.6. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Đình V1 01 (Một) năm tù.
Áp dụng Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với Bản án số 47/2023/HS-ST ngày 25-10-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xử phạt bị cáo 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày 25-10-2023. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 02 (Hai) năm tù.
1.7. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 01 (Một) năm tù.
1.8. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T8 03 (Ba) năm tù.
1.10. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Văn D2, Cao Thị L3 và Nguyễn Thị H6 mỗi bị cáo 03 (Ba) năm tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, quyết định biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị H6 và Đặng Đình V1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Các bị cáo Đào Văn D2, Bùi Văn M (T17), Nguyễn Văn N1, Trần Tiến D1, Bùi Văn M (Mạnh Đu B), Cao Thị L3, Trần Văn T, Phạm Văn T8 và Hà Văn S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và bị cáo M (M đu bai); đối với các bị cáo Hà Văn S; Đào Văn D2; Bùi Văn M (T) thì đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta. Bị cáo Trần Tiến D1 xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Nguyễn Văn N1 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, các bị cáo khác đồng ý với ý kiến của Luật sư và không có ý kiến gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 355; khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N1, áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự, sửa bản án sơ thẩm và xử phạt bị cáo N1 06 tháng tù.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đào Văn D2, Bùi Văn M (T17), Trần Tiến D1, Bùi Văn M (Mạnh Đu B), Trần Văn T và Hà Văn S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ Điều 342; Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Đặng Đình V1, Phạm Văn T8, Nguyễn Thị H6 và Cao Thị L3.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Khoảng 12 giờ ngày 19-12-2023, tại lô 10, khoảnh 4, tiểu khu A lâm phần do Đoàn kinh tế Quốc phòng Q quản lý thuộc địa giới hành chính thôn Đ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Trần Văn T, Bùi Văn M (Mạnh Đu B), Hà Văn S, Trần Tiến D1, Bùi Văn M (T), Đặng Đình V1, Nguyễn Văn N1, Lâm Văn L4 đã có hành vi tổ chức cho Phạm Văn T8, Nguyễn Đỗ T14, Đào Văn D2, Đoàn Văn A1, Nguyễn Minh T15, Cao Thị L3, Nguyễn Thị H6 tham gia đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền. Trong quá trình tổ chức đánh bác thì T, Mạnh Đu B cũng tham gia đánh bạc. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền dùng để đánh bạc là 61.150.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).
Do đó, Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 06-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong đã kết án các bị cáo Trần Văn T, Bùi Văn M (Mạnh Đu B) phạm các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 và Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Hà Văn S, Trần Tiến D1, Bùi Văn M (T), Đặng Đình V1, Nguyễn Văn N1 và Lâm Văn L4 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Phạm Văn T8, Nguyễn Đỗ T14, Đào Văn D2, Đoàn Văn A1, Nguyễn Minh T15, Cao Thị L3 và Nguyễn Thị H6 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Tại phiên tòa, Đặng Đình V1, Phạm Văn T8, Nguyễn Thị H6 và Cao Thị L3 rút đơn kháng cáo, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342; Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm, Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Đặng Đình V1, Phạm Văn T8, Nguyễn Thị H6 và Cao Thị L3 có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.
[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[3.1]. Về tố tụng:
Ngày 06-3-2025, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong xét xử sơ thẩm. Trong thời hạn kháng cáo thì các bị cáo có đơn kháng cáo. Kháng cáo của các bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[3.2]. Về nội dung:
[3.2.1]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn T:
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần Văn T là người khởi xướng, cung cấp công cụ trong việc tổ chức đánh bạc và trực tiếp tham gia đánh bạc. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), điểm t (giúp cơ quan Công an bắt đối tượng bị truy nã) theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 (ông ngoại bị cáo là người có công với cách mạng) của Bộ luật Hình sự.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cụ thể: Giấy xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có vợ và con bị bênh tật, cần phải điều trị lâu dài, thường xuyên và bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[3.2.2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Văn M (Mạnh Đu B):
Bị cáo giữ vai trò là người thực hành theo sự khởi sướng của bị cáo T trong việc tổ chức đánh bạc và trực tiếp tham gia đánh bạc. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã “tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” nên việc Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cụ thể: Giấy xác nhận của Trưởng Công an huyện Đ ngày 21 tháng 8 năm 2024 về việc xác nhận bị cáo Bùi Văn M đã tích cực tham gia phát hiện tội phạm và đã giúp Cơ quan điều tra Công an huyện Đ quả tang các đối tượng Mùa A T16, sinh năm 1987, trú tại xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và Sùng A S2, sinh năm 1992, Thào Thị D4 sinh năm 1975 đều trú tại cụm A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông vào ngày 04-8-2024 về hành vi tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy. Công an huyện Đ đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của pháp luật; Bị cáo có bố đẻ là ông Bùi Văn H có thời gian tham gia kháng chiến; quá trình sinh sống tại địa phương có nhiều đóng góp cho phong trào xã hội được ủy ban nhân dân xã Q tặng giấy khen. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật của Nhà nước; có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo mục đích của hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[3.2.3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn N1:
Bị cáo được áp dụng các tình tiết “tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm”, quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có người thân là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, có căn cứ chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[3.2.4]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Hà Văn S, Trần Tiến D1, Đào Văn D2 và Bùi Văn M (T17), Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình điều tra và giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi con nhỏ. Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo Hà Văn S, Trần Tiến D1, Đào Văn D2 và Bùi Văn M (T) được hưởng án treo cũng đủ răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[4]. Về án phí: Đặng Đình V1, Phạm Văn T8, Nguyễn Thị H6 và Cao Thị L3 rút đơn kháng cáo nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Do kháng cáo của Trần Văn T, Nguyễn Văn N1, Bùi Văn M (Mạnh Đu B), Hà Văn S, Trần Tiến D1, Đào Văn D2 và Bùi Văn M (T) được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 342; Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Đặng Đình V1, Phạm Văn T8, Nguyễn Thị H6 và Cao Thị L3. Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 06-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong xử phạt đối với Đặng Đình V1, Phạm Văn T8, Nguyễn Thị H6 và Cao Thị L3 có hiệu lực kể từ ngày 25-6-2025.
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, các điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Bùi Văn M (M đu bai), Nguyễn Văn N1, Hà Văn S, Trần Tiến D1; Đào Văn D2 và Bùi Văn M (T), sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 06-3-2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong về phần hình phạt và điều luật áp dụng.
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T và Bùi Văn M (Mạnh Đu B) phạm các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.
Các bị cáo Hà Văn S, Trần Tiến D1, Bùi Văn M (T) và Nguyễn Văn N1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Bị cáo Đào Văn D2 phạm tội “Đánh bạc”.
2.1. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-12-2023 đến ngày 07-01-2024.
2.2. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn M (Mạnh Đu B) 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn M (Mạnh Đu B) 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Bùi Văn M (Mạnh Đu B) phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2.3. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2.4. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn S 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25-6-2025).
2.5. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Tiến D1 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25-6-2025).
2.6. Áp dụng các điểm c, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn M (Mạnh Ti) 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25-6-2025).
2.7. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Văn D2 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25-6-2025).
Giao bị cáo Hà Văn S cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là xã Q, tỉnh Lâm Đồng theo Nghị quyết số 1671/NQ-UBTVQH15 ngày 16-6-2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Trần Tiến D1 và Bùi Văn M (T17) cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là xã Q, tỉnh Lâm Đồng theo Nghị quyết số 1671/NQ-UBTVQH15 ngày 16-6-2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Đào Văn D2 cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông (nay là xã Q, tỉnh Lâm Đồng theo Nghị quyết số 1671/NQ-UBTVQH15 ngày 16-6-2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Đặng Đình V1, Phạm Văn T8, Nguyễn Thị H6, Cao Thị L3, Trần Văn T, Nguyễn Văn N1, Bùi Văn M (Mạnh Đu B), Hà Văn S, Trần Tiến D1, Đào Văn D2 và Bùi Văn M (T) không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Ứng |
Bản án số 40/2025/HS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự phúc thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 40/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
