trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẠ HÒA

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30/06/2025

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Tuyết Mai

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Thành Dũng

Ông Nguyễn Văn Tiệm

Thư ký phiên tòa: Bà Phí Lê Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2025/TLST-HNGĐ ngày 29/04/2025 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/06/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QÐST-HNGĐ ngày 17/06/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đàm Thị Thanh L, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Khu A, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn: Anh Đỗ Tiến C, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Khu A, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

(Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Đàm Thị Thanh L trình bày:

Chị tự nguyện kết hôn với anh Đỗ Tiến C vào ngày 28/07/2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Đến năm 2015 thì vợ chồng chị chuyển về sinh sống tại khu A, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, gia đình hai bên cũng đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện anh C đi làm ăn xa, chỉ thỉnh thoảng có về địa phương nhưng không ghé thăm gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 1/2023 đến nay chấm dứt mọi quan hệ, vợ chồng không quan tâm gì đến nhau. Nay xác định không còn tình cảm nên chị xin ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Ngọc L1, sinh ngày 01/02/2015 và cháu Đỗ Ngọc N, sinh ngày 16/08/2017. Hiện nay hai cháu đều đang ở với chị L. Ly hôn, chị L xin trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh yêu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Tại phiên tòa chị Đàm Thị Thanh L vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết, bị đơn là anh Đỗ Tiến C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt. Quá trình làm việc và xác minh tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện H và xã Y, huyện Đ cùng biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị H - là mẹ của anh C cũng thể hiện tình trạng hôn nhân của anh chị có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh C đi làm ăn xa vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Quá trình chị L về làm dâu tại gia đình thì giữa chị L và gia đình chồng không có mâu thuẫn gì, mọi khúc mắc bắt nguồn từ việc anh C về ở rể tại quê nhà chị L. Nay vợ chồng anh chị không thể hòa giải được, nhất quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh C hiện vẫn có hộ khẩu tại xã V, huyện H nhưng đi làm ăn không đến Tòa án làm việc mặc dù các văn bản của Tòa án gửi về gia đình ở xã Y, huyện Đ đều nhận được và thông báo cho anh C được biết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, xác định:

  • + Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • + Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:
  • - Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị L được ly hôn anh C.
  • - Về con chung: Giao hai con chung là cháu Đỗ Ngọc L1, sinh ngày 01/02/2015 và cháu Đỗ Ngọc N, sinh ngày 16/08/2017 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị L do chị L không yêu cầu.
  • - Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí ly hôn quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn là Đàm Thị Thanh L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Đỗ Tiến C cư trú tại khu A, xã V, huyện H nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, anh C tiếp tục vắng mặt, lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Do vậy, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L, anh C.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị Thanh L kết hôn với anh Đỗ Tiến C năm 2013 là hôn nhân hợp pháp bởi lẽ anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Hai bên chung sống hòa thuận một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không còn quan tâm, yêu thương nhau do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung cũng như trách nhiệm với gia đình. Hai bên đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Xác minh tại chính quyền địa phương và Biên bản làm việc với đại diện gia đình của anh C cho thấy tình trạng hôn nhân của anh chị hiện đã rạn nứt, không có đời sống chung, không thể hàn gắn được.

Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị L xin ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân gia đình, cần chấp nhận.

[2.2] Về nuôi con chung sau khi ly hôn: Xét yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung của chị L thấy rằng: Thực tế thì từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, 02 con chung là Đỗ Ngọc L1, sinh ngày 01/02/2015 và cháu Đỗ Ngọc N, sinh ngày 16/08/2017 vẫn do chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, cháu L2 và cháu N đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ; quá trình giải quyết vụ án anh C không có mặt để thể hiện quan điểm nguyện vọng về nuôi con sau ly hôn. Do vậy, để cho các con chung tiếp tục có cuộc sống ổn định, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt nhất, quyền lợi của các con được đảm bảo và không bị ảnh hưởng về tâm lý nên giao cả 02 con chung cho chị L được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí ly hôn quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Xử :

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đàm Thị Thanh L được ly hôn với anh Đỗ Tiến C.
  2. Về con chung: Giao cho chị Đàm Thị Thanh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là Đỗ Ngọc L2, sinh ngày 01/02/2015 và Đỗ Ngọc N, sinh ngày 16/08/2017. Anh Đỗ Tiến C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Không giải quyết trong vụ án này mà sẽ được xem xét trong vụ, việc dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đàm Thị Thanh L phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số 0003273 ngày 28/04/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa. Chị L đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị L, anh C có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơinhận:

- VKSND huyện Hạ Hòa;

- VKSND tỉnh Phú Thọ ;

- Chi cục THA DS huyện Hạ Hòa;

- UBND xã Yên Kiện, huyện Đoan Hùng;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger