Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN TRỤ

TỈNH LONG AN

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25-6-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hoàng Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hữu Đên.
  2. Bà Mai Thị Bỉ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số C, Ấp A, xã B, xã P, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Huỳnh L, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số nhà I, đường N, khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và B tự khai cùng đề ngày 11 tháng 4 năm 2025, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Huỳnh L tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An ngày 27 tháng 02 năm 2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau, hiện tại vợ chồng đã không còn chung sống với nhau. Vì nhận thấy vợ chồng thật sự đã không còn tình cảm với nhau, hôn nhân không thể hàn gắn được nữa nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh L.

Về con chung: Bà và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2012. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung.

Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng không có nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay, không trình bày ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu phản tố và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.

Vụ án đã được tiến hành công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Huỳnh L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh L và có yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung; bị đơn hiện đang cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An theo xác nhận của Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Vì vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Huỳnh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự trong vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về giao nộp và đánh giá chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[4] Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Huỳnh L, thấy rằng: Bà T và ông L tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19, quyển số 01/2012, đăng ký ngày 27/02/2012 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Theo bà T trình bày mâu thuẫn vợ chồng đã không thể hàn gắn được nữa, vợ chồng đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm đến nhau nên yêu cầu được ly hôn với ông L. Bị đơn từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng đều vắng mặt và không thể hiện ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn. Như vậy chứng tỏ ông L cũng không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà T. Vì vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông L là có phát sinh trên thực tế, vợ chồng đã không còn quan tâm đến nhau nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn bà Nguyễn Thị Thanh T đối với ông Nguyễn Huỳnh L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về con chung: Bà T và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 08/8/2012. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, cháu T1 hiện đang sống với bà T, do bà T trực tiếp chăm sóc từ khi sinh ra cho đến nay và cháu vẫn phát triển bình thường; ông L cũng không có yêu cầu tranh chấp về quyền nuôi con và cháu T1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy cần tiếp tục giao cho bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 08/8/2012 để không làm thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của con chung. Ông L có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[6] Về mức cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu ông Nguyễn Huỳnh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con hoặc cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[7] Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung. Ông Nguyễn Huỳnh L không có ý kiến phản đối với lời trình bày này của bà T và cũng không yêu cầu giải quyết chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[8.1] Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011632 ngày 21/4/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; bà T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

[8.2] Ông Nguyễn Huỳnh L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 96, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 207, Điều 208, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” đối với ông Nguyễn Huỳnh L.

    Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh L.

    Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 08/8/2012; ông Nguyễn Huỳnh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định của pháp luật.

    Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  2. Về án phí:

    Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011632 ngày 21/4/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; bà T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

    Ông Nguyễn Huỳnh L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  4. Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Tân Trụ;
  • - CCTHADS huyện Tân Trụ;
  • - UBND xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An (Để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Huỳnh Thị Hoàng Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger