|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST Ngày 25-6-2025 “V/v ly hôn giữa chị Liễu- anh Phát” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Khải; Bà Nguyễn Thị Đoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2025/TLST–HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐ-HPT ngày 11/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1981.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn P, sinh năm 1980.
Đều cư trú tại: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình
(Tại phiên tòa có mặt chị L, vắng mặt anh P)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai, tại phiên tòa nguyên đơn là chị Phạm Thị L trình bày: Chị L và anh Phạm Văn P tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 31/8/2000. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại gia đình anh P và lao động tự do. Quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Tháng 11/2024 chị L đã trở về gia đình bố mẹ sinh sống và sống ly thân với anh P cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị L đề nghị xin được ly hôn anh P.
Về con chung: Chị L khai vợ chồng có 02 con chung là Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 19/5/2002 và Phạm Văn C, sinh ngày 27/01/2004, hai con chung đã trên 18 tuổi, đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không đặt trách nhiệm nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Chị L khai vợ chồng không nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết phần tài sản chung.
Đối với bị đơn là anh Phạm Văn P: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cần thiết cho anh P biết để đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng anh P vẫn vắng mặt không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn, vì vậy Tòa án không ghi được lời khai của anh P và không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa lần 1 và lần 2 anh P đều vắng mặt không có lý do.
Tòa án đã xác minh:
- - Bà Trần Thị H, sinh năm 1956, là mẹ đẻ chị L; Ông Phạm Văn H1 là công chức Tư pháp xã A đều cung cấp hoàn cảnh điều kiện, thời gian kết hôn, thời gian chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị L và anh P. Hiện tại chị L đã trở về gia đình bố mẹ đẻ sinh sống, hai bên sống ly thân. Quan điểm của ông H1 và bà H đều đề nghị Tòa án căn cứ vào thực trạng hôn nhân hòa giải để hai bên trở về đoàn tụ, nếu việc hòa giải không thành thì đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn của chị L theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Hồ sơ vụ án từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đã lập và thu thập các tài liệu và chứng cứ, tuân thủ cơ bản theo trình tự luật định. Tại phiên tòa việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự pháp luật. Đối với nguyên đơn trong các giai đoạn tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa là chấp hành chưa đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị L được ly hôn anh P; Về con chung: hai con chung của chị L và anh P đều đã trên 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi dân sự, vì vậy không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung: chị L không yêu cầu giải quyết tài sản chung nên không đặt ra giải quyết; Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Phạm Thị L và anh Phạm Văn P được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 31/8/2000 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị L và anh P cùng chung sống với gia đình anh P tại xã A và lao động tự do. Theo như chị L trình bày và Tòa án xác minh thu thập chứng cứ cho thấy trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 11/2024 mâu thuẫn trầm trọng, chị L đã trở về gia đình bố mẹ đẻ ở và sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, hai bên không hỏi han gì đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị L làm đơn khởi kiện đề nghị xin được ly hôn. Còn đối với anh P quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ để anh P biết và đến Tòa án tham gia hòa giải, vợ chồng có cơ hội gặp gỡ trở về đoàn tụ, nhưng anh P vắng mặt. Qua xác minh lời khai bà Trần Thị H là mẹ đẻ chị L; Ông Phạm Văn H1 là công chức Tư pháp xã A đều xác nhận hiện anh P đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại gia đình ở thôn T, xã A nhưng do anh P làm công nhân tại địa bàn khác, sáng đi làm tối mới trở về nhà. Quan điểm của bà H, ông H1 đều đề nghị Tòa án căn cứ vào thực trạng hôn nhân để hòa giải các bên trở về đoàn tụ, nếu việc hòa giải không thành thì đề nghị Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn anh P vì hai bên đã sống ly thân thời gian dài và không còn thương yêu nhau nữa. Đối với chị L tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh P. Điều đó chứng tỏ cuộc sống tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh P đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn anh P là có căn cứ.
- [3] Về con chung: Chị L và anh P có 02 con chung là Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 19/5/2002 và Phạm Văn C, sinh ngày 27/01/2004, hai con chung đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, vì vậy không đặt trách nhiệm nuôi dưỡng.
- [4] Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy phần tài sản Tòa án không xét.
- [5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [6] Về quyền kháng cáo: Chị L và anh P có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Phạm Văn P.
- Về con chung: Chị L và anh P có 02 con chung là Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 19/5/2002 và Phạm Văn C, sinh ngày 27/01/2004. Hai con chung đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, vì vậy không đặt trách nhiệm nuôi dưỡng.
- Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 00002422 ngày 11/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ thành tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Anh P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN MINH ĐỨC |
Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về v/v ly hôn giữa chị liễu- anh phát
- Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: V/v ly hôn giữa chị Liễu- anh Phát
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1981. - Bị đơn: Anh Phạm Văn P, sinh năm 1980. Đều cư trú tại: Thôn Tô Đàm, xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
