Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EA H'LEO

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23 tháng 5 năm 2025

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Linh, ông Ksor Y Nai

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Hằng, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hai - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 425/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QÐST–HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng V, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Tri C1, xã Đliê Y, huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Anh Đặng Bá Quyền N, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Tri C1, xã Đliê Y, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị Hồng V trình bày tóm tắt:

Chị với anh Đặng Bá Quyền N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 14 tháng 12 năm 2015, tại Ủy ban nhân dân xã Đliê Y, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk. Anh chị có 01 con chung là cháu Đặng Lê Hoài A, sinh ngày 27 tháng 4 năm 2018. Trong quá trình chung sống, anh chị có quá nhiều mâu thuẫn, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay, anh chị đã sống ly thân, nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh N. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Nước cấp dưỡng nuôi con. Còn về tài sản chung và nợ chung, thì chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, cháu Đặng Lê Hoài A trình bày tóm tắt:

Sau khi ba mẹ cháu ly hôn, thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Tại Giấy chứng nhận kết hôn số 214/2016; Quyển số 01/2014 ngày 14 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban nhân dân xã Đliê Y, huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk chứng nhận:

Anh Đặng Bá Quyền N và chị Lê Thị Hồng V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đliê Y, huyện Ea H, Đắk Lắk ngày 14 tháng 12 năm 2015.

Tại Biên bản xác minh, UBND xã Đliê Y, huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk cung cấp thông tin tóm tắt như sau:

Chị Lê Thị Hồng V và anh Đặng Bá Quyền N có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi đăng ký kết hôn, chị V và anh N chung sống với nhau tại địa phương. Tuy nhiên từ khoảng giữa năm 2024 đến nay, chị V không còn có mặt tại địa phương.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Khẳng định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận nội dung khởi kiện của chị V, cho chị V ly hôn với anh N. Giao con chung cho chị V nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thụ lý vụ án:

  • + Chị V và anh N là vợ chồng (Có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật). Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung. Hiện nay, chị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con. Như vậy quan hệ pháp luật ở đây là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
  • + Chị V khởi kiện và có nộp tiền tạm ứng án phí. Anh N có hộ khẩu thường trú ở huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk căn cứ vào các Điều 35; 39; khoản 3 Điều 195 của BLTTDS để thụ lý vụ án.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được. Chị V xin xét xử vắng mặt. Anh N mặc dù được Tòa án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy Tòa án căn cứ Điều 227 của BLTTDS tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[3]. Về nội dung quan hệ pháp luật có tranh chấp:

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị V, thì Hội đồng xét xử xét thấy:

  • + Về quan hệ hôn nhân:
  • Trong thời kỳ hôn nhân, chị V và anh N phát sinh mâu thuẫn dẫn đến anh chị không còn sống chung, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị V đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện tại giữa chị V và anh N, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, cho chị V ly hôn với anh N.
  • + Về con chung:
  • Chị V và anh N có 01 con chung là cháu Đăng Lê Hoài A, sinh ngày 27 tháng 4 năm 2018. Hiện nay, cháu A còn nhỏ, đang ở với mẹ và cháu là con gái. Nguyện vọng của chị V là nuôi dưỡng con chung. Cháu A cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, anh N không hợp tác nên không ghi nhận được ý kiến, vì vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V và quan điểm của Viện kiểm sát, giao con chung cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi).
  • + Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, chị V không yêu cầu giải quyết vì vậy HĐXX cũng không xem xét.

[4]. Về án phí: Vì đây là vụ án ly hôn, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, thì nguyên đơn (Chị V) vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 51; 56; 81; 82; 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng V về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.

  • + Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Hồng V ly hôn với anh Đặng Bá Quyền N.
  • + Về con chung: Giao cháu Đặng Lê Hoài A, sinh ngày 27 tháng 4 năm 2018 cho chị Lê Thị Hồng V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi).

Anh Đặng Bá Quyền N có quyền, nghĩa vụ chăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp anh Đặng Bá Quyền N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, thì chị Lê Thị Hồng V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Đặng Bá Quyền N.

2. Về án phí:

Chị Lê Thị Hồng V phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. Được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi thành án dân sự huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0002401 ngày 21 tháng 10 năm 2024.

3. Về quyền và thời hạn kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện Ea H;
  • - UBND xã Đliê Y, Ea H, Đắk Lắk;
  • - Các đương sự ;
  • - Lưu hồ sơ

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Văn Dũng

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị V và anh N là vợ chồng,. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị V khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger