Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16/4/2025

V/v “Không công nhận quan hệ vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân.

1. Bà Thái Ánh Trinh

2. Bà Trần Thúy Kiên

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 61/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2025, về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số 94/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1991.

ĐKTT: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Ông Thái Văn R - sinh năm 1981.

ĐKTT: Khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 02 )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 05 năm 2024 và trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Thái Văn R do mai mối rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng không thể hàn gắn được nên bà M yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng với ông R.

- Về con chung: Ông, bà có 01 người con chung tên Thái Thị Như Ý, sinh ngày 27/8/2009. Hiện tại cháu Như Ý đang sinh sống với gia đình bà M. Khi Tòa án giải quyết vụ án, bà M có yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Như Ý đến trưởng thành, không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà M cho rằng quá trình chung sống bà và ông R không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt theo quy định Thông báo thụ lý, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho ông Thái Văn R, nhưng ông R vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Thái Văn R vắng mặt lần thứ 02 không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị M và ông Thái Văn R do có cơ sở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nhận thấy hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị M và ông Thái Văn R là tự nguyện, tuy nhiên do không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên không được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa ông bà xãy ra mâu thuẫn, bà M khởi kiện yêu cầu không công nhận vợ chồng với với ông R, đây là quan hệ pháp luật “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 . Ông R có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Bà M cho rằng trong thời gian chung sống giữa bà và ông R phát sinh nhiều mâu thuẫn mà không thể hàn gắn tình cảm được. Về phía ông R, quá trình giải quyết vụ án ông R vắng mặt không rõ lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án. Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đều vắng mặt, cho thấy tình trạng mâu thuẫn giữa các bên đã trở nên trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm được nên đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Tuy nhiên, do các đương sự không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà M và ông R là phù hợp.

[4] Xét về con chung: Quá trình chung sống, ông bà có 01 người con chung tên Thái Thị Như Ý, sinh ngày 27/8/2009. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Như Ý trình bày hiện tại cháu đang sống chung với mẹ và có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ, không yêu cầu cha cấp dưỡng. Nhận thấy, hiện tại cháu Như Ý đang do bà M trực tiếp nuôi dưỡng, sinh sống và học tập tại quê ngoại ở huyện G, tỉnh Kiên Giang; mặt khác cháu Như Ý là nữ đang trong giai đoạn phát triển về tâm sinh lý nên nếu giao cháu cho ông R nuôi dưỡng sẽ ảnh hưởng đến việc học tập và sự phát triển của cháu. Về phía bà M cũng có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử nghĩ giao cháu Như Ý cho bà M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Đồng thời cũng dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông R theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để con chung có đầy đủ tình yêu thương, chăm sóc của cha và mẹ như những trẻ khác.

Xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha, mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 5; 28; 35; 39; 147; 207; 227; 228; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 14, 15, 53, 81; 82; 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, qản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị M và ông Thái Văn R.

Về con chung: Công nhận bà Nguyễn Thị M và ông Thái Văn R có 01 người con chung tên Thái Thị Như Ý, sinh ngày 27/8/2009.

Giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông R không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông R không ai được cản trở. Bà M, Ông R có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005991 ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ. Công nhận bà M đã nộp xong.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -TAND TP. Cần Thơ;
  • -VKSND quận Thốt Nốt;
  • -Cơ quan THA quận Thốt Nốt;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Việt Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger