Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12 – 3 – 2025

“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam

- Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đăng Ninh

Ông Nguyễn Tất Thể

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 237/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 16/2025/QĐXX-ST ngày 04 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Bị đơn: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1990; Nơi đăng ký thường trú: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Phạm Thị H trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Trần Văn H1 đăng ký kết hôn ngày 14/3/2012 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên tháng 10/2023, anh H1 đi lao động tại Nhật Bản đến nay chưa về nước. Năm 2024, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, mỗi người một nơi nên thiếu tin tưởng, quan tâm lẫn nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Hiện tại hai vợ chồng không còn liên lạc với nhau, chị H xác định không còn tình cảm với anh H1 nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1.
  • - Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Trần Văn H2, sinh ngày 25/02/2014 và Trần Thiên P, sinh ngày 25/02/2020. Hiện hai con chung đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Văn H2 và đồng ý giao cháu Trần Thiên P cho anh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Trong thời gian anh H1 chưa về nước thì chị H đồng ý để mẹ đẻ anh H1 là bà Nguyễn Thị M chăm sóc cháu P cho đến khi anh H1 về nước. Chị H và anh H1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị H trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh H1 tại Nhật Bản và đề nghị Tòa án thu thập địa chỉ của anh H1 qua gia đình anh.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh Trần Văn H1 cư trú trước khi xuất cảnh và làm việc anh H1 (tại thời điểm xác minh anh H1 đang có mặt tại địa phương), anh H1 trình bày:

Về thời điểm, điều kiện kết hôn, quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng như chị H khai là đúng. Vợ chồng sống mỗi người một nơi, không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn có tiếng nói chung. Anh H1 cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, nay chị H yêu cầu ly hôn thì anh Hiệp đồng Ý.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên là Trần Văn H2, sinh ngày 25/02/2014 và Trần Thiên P, sinh ngày 25/02/2020. Khi ly hôn, anh H1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian anh H1 đang lao động ở nước ngoài, anh đồng ý để mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị M chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung thay anh cho đến khi anh H1 về nước; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Trần Văn H1 cho biết hiện nay anh đang lao động tại Nhật Bản, anh không cung cấp địa chỉ cụ thể của anh tại Nhật Bản và do tính chất công việc đi lại khó khăn nên anh không thể về Việt Nam để giải quyết vụ án. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh và ủy quyền việc giao nhận tài liệu cho bà Nguyễn Thị M (mẹ đẻ anh H1), địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 10, điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 464 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên xử:

2

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Hải

  • Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Trần Văn H1
  • Về con chung: Giao con chung là Trần Văn H2, sinh ngày 25/02/2014 cho chị Phạm Thị H và giao cháu Trần Thiên P, sinh ngày 25/02/2020 cho anh Trần Văn H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Chị H và anh H1 được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở. Chị H và anh H1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
  • Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn H1 đang sống và làm việc tại Nhật Bản, không có địa chỉ cụ thể. Tuy nhiên, Tòa án xác minh thông qua gia đình xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh H1 ở Việt Nam là thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Theo công văn số 1339/QLXNC- Đ1 ngày 20/12/2024 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công An tỉnh H thì anh Trần Văn H1 đã xuất cảnh ngày 11/10/2023, nhập cảnh ngày 17/12/2024. Vì vậy ngày 05/12/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là đúng theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tòa án đã tiến hành xác minh, ghi nhận ý kiến và yêu cầu anh Trần Văn H1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh H1 tại nước ngoài, tuy nhiên anh H1 không cung cấp. Căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các vụ án có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài thì đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết chị H có mặt nhưng vì lý do công việc đi làm ăn xa nên không thể tham gia phiên tòa được và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị H và anh H1 theo thủ tục chung.

  1. Về nội dung
  • [2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Trần Văn H1 đăng ký kết hôn ngày 14/3/2012 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Việc kết hôn giữa chị H và anh H1 thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Khoảng từ năm 2024, tình cảm vợ chồng bắt đầu rạn nứt, vợ chồng không còn hoà hợp, không còn tiếng nói chung. Vợ chồng đã lâu không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Hiện tại, chị H nhận thấy không còn tình cảm với anh H1, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Anh H1 cũng thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân đã trở nên trầm trọng nên chị H xin ly hôn thì anh Hiệp đồng Ý.

Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Trần Văn H1 không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị H.

  • [2.2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Văn H2, sinh ngày 25/02/2014 và Trần Thiên P, sinh ngày 25/02/2020. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Văn H2 và đồng ý giao cháu Trần Thiên P cho anh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là Trần Văn H2 và Trần Thiên P, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay anh H1 đang sinh sống và lao động ở nước ngoài, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc cả hai con chung. Mặt khác, hiện nay các con chung đều sống cùng với chị H, để đảm bảo sự ổn định, quyền lợi về mọi mặt, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của các con và đảm bảo quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên thì giao cháu Trần Văn H2 cho chị H và giao cháu Trần Thiên P cho anh H1 được chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên.

Trong thời gian anh H1 đang lao động ở nước ngoài, tạm giao cháu Trần Thiên P cho mẹ đẻ anh H1 là bà Nguyễn Thị M chăm sóc, nuôi dưỡng thay anh H1 cho đến khi anh H1 về nước. Chị H và anh H1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

  • [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh H1 không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  • [3] Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
  • [4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

4

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273, 464, 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 253/TANDTC - PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị H

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Hải ly H3 anh Trần Văn H1.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Văn H2, sinh ngày 25/02/2014 cho chị Phạm Thị H và giao cháu Trần Thiên P, sinh ngày 25/02/2020 cho anh Trần Văn H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Phạm Thị H và anh Trần Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị H và anh H1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị H đã nộp tại biên lai số 0000205 ngày 04/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật.

5

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Cẩm Hòa, huyện Cẩm Xuyên;
  • - Lưu HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Lam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị H yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger