|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11-6-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phước Thị Kim Huê
Ông Lương Hữu Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ý Nhi –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trầm Văn Mừng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:110/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 20/9/1989;
- Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Kim T1, sinh năm 1987;
- Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/3/2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Vào năm 2010, bà với ông Kim T1 gặp gỡ và quen biết nhau, qua thời gian tìm hiều nên cả hai có tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, được cha mẹ hai bên đồng ý cho phép tổ chức lễ cưới và có đến Ủy ban Nhân dân xã T đăng ký kết hôn, được UBND xã cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58, quyền số 1, ngày 16/6/2010. Sau ngày cưới vợ chồng đi tìm việc làm nhiều nơi, tuy vậy vợ chồng sống rất hạnh phúc và sinh được 02 đứa con. Vào năm 2015 bà về quê chăm sóc con, còn ông Kim T1 vẫn tiếp tục công việc. Đến năm 2022 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau nên đã xa mặt thì cách lòng, dần về sau ông Kim T1 ít khi về thăm mẹ con bà và cũng không gọi cho mẹ con bà thường xuyên như trước đây, khi cần bà gọi cho ông T1 thì vợ chồng lại cãi nhau. Vợ chồng liên lạc thưa dần, khoảng năm 2024 thì không liên lạc với nhau nữa và ông Kim T1 không về thăm mẹ con bà cũng không gửi tiền chu cấp nuôi con. Từ đó vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay, từ lúc ly thân hai bên không bên nào tạo điều kiện hàn gắn. Đến nay, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, cả hai không còn yêu thương và dành tình cảm cho nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt nên quyết định ly hôn để trả tự do cho nhau.
-Về con chung: 02 đứa con tên Kim Tiểu B, sinh ngày 22/02/2011 và Kim Tiểu M, sinh ngày 21/01/2015, hiện các con đang sống với bà nên bà yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con và không yêu cầu ông Kim T1 cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn, ông Kim T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Kim T1 vắng mặt không lý do. Bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử; Tòa án triệu tập ông Kim T1 tham gia phiên tòa ngày 29/5/2025 và phiên tòa hôm nay nhưng ông Kim T1 vẫn vắng mặt không lý do nên không có lời khai.
Tại biên bản tiếp xúc ngày 27/3/2025 đối với bà Lâm Thị C là mẹ ruột của ông Kim T1, bà C xác nhận bà Nguyễn Thị T và ông Kim T1 lên thành phố Hồ Chí Minh đi làm khoảng 10 năm sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do đâu thì bà không biết. Bà T và ông T1 có 02 người con chung là Kim Tiểu B, sinh ngày 22/02/2011 và Kim Tiểu M, sinh ngày 21/01/2015, con chung của hai người do bà T chăm sóc, cách nay khoảng hai năm thì bà T và cháu nội không về thăm bà. Theo bà thì giữa bà T và ông T1 không thể đoàn tụ được nữa vì ly thân đã lâu mà không ai tạo điều kiện hàn gắn. Bà T và ông T1 có tài sản chung và nợ chung hay không thì bà không biết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tham khảo ý kiến của cháu Kim Tiểu M và cháu Kim Tiểu B, tại bản tự khai ý kiến ngày 17/4/2025 cháu Kim Tiểu M và cháu Kim Tiểu B đều có nguyện vọng sống chung với mẹ là bà Nguyễn Thị T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nhận thấy bà T và ông T1 đã tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vào ngày 16/6/2010. Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung là cháu Kim Tiểu M và cháu Kim Tiểu B. Đến đầu năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Hiện nay, vợ chồng bà T và ông T1 đã ly thân, tài sản chung, nợ chung bà T khai không có. Sau khi thụ lý Tòa án tiến hành hòa giải động viên để bà T và ông T1 đoàn tụ nhưng ông T1 vắng mặt, bà T vẫn kiên quyết ly hôn và có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải. Xét thấy cuộc sống vợ chồng của bà T và ông T1 đã mâu thuẫn trầm trọng vì vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Kim T1.
Về con chung, giao cả 02 người con chung cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng cũng phù hợp với nguyên vọng của cháu M, cháu B là muốn tiếp tục sống với mẹ, bà Tình tự N không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về án phí: Do bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Thủ tục xét xử vắng mặt tất cả đương sự: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt cho bị đơn ông Kim T1 các văn bản tố tụng từ khi thụ lý, thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đồng thời, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227 và 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy bà Nguyễn Thị T và ông Kim T1 kết hôn vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, tại giấy chứng nhận kết hôn số 58/2010 ngày 16 tháng 6 năm 2010 nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Kim T1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân xin ly hôn theo trình bày của bà Nguyễn Thị T là do vợ chồng sống xa nhau nên đã xa mặt thì cách lòng, dần về sau ông Kim T1 ít khi về thăm mẹ con bà và cũng không gọi cho mẹ con bà thường xuyên như trước đây, khi cần bà gọi cho ông T1 thì vợ chồng lại cãi nhau. Vợ chồng liên lạc thưa dần, khoảng năm 2024 thì không liên lạc với nhau nữa và ông Kim T1 không về thăm mẹ con bà cũng không gửi tiền chu cấp nuôi con. Từ đó vợ chồng sống ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay, từ lúc ly thân hai bên không bên nào tạo điều kiện hàn gắn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, thuyết phục để tạo điều kiện cho hai bên hàn gắn, đoàn tụ xây dựng gia đình nhưng không đạt kết quả do ông Kim T1 không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Qua xác minh mẹ ruột của ông Kim T1 cho thấy tình trạng hôn nhân giữa ông Kim T1 và bà Nguyễn Thị T đã mâu thuẫn ngày càng trầm trọng; vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, không ai tạo điều kiện hàn gắn, chứng tỏ đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, nếu có duy trì thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Kim T1 theo yêu cầu một bên.
[4] Về con chung: bà Nguyễn Thị T và ông Kim T1 có 02 con chung tên Kim Tiểu B, sinh ngày 22/02/2011 và Kim Tiểu M, sinh ngày 21/01/2015, hiện đang sống với bà Nguyễn Thị T. Khi được Tòa án hỏi ý kiến thì cháu Tiểu B và chú Tiểu M có nguyện vọng sống chung với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục được nuôi dưỡng cả hai người con, bà Nguyễn Thị T không có ý kiến, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Nếu sau khi ly hôn mà có phát sinh tranh chấp yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú là có cơ sở, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 177, 227, 228, 238 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các điều 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Kim T1.
- Về con chung: Giao cháu Kim Tiểu B, sinh ngày 22/02/2011 và Kim Tiểu M, sinh ngày 21/01/2015 cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục (theo nguyện vọng của con chung), ông Kim T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, ông Kim T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu ông Kim T1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Nguyễn Thị T có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hạn chế quyền thăm nom con của ông Kim T1.
- Về tài sản chung: Nếu giữa bà Nguyễn Thị T và ông Kim T1 có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp bằng 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003056, ngày 14/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú. Bị đơn ông Kim T1 không phải chịu án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Duyên |
Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con
