Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐẤT

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số:40/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 09-4-2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Bá Lộc
  2. Bà Nguyễn Thị Di

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh K - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 04 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 430/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1976 (Vắng mặt, và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1975 (vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn C tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn vào năm 1998, tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không còn thương yêu, thấu hiểu và đồng cảm với nhau, ông C không quan tâm, chăm sóc vợ con, nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, vì thương con vợ bà H cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được, nên bà H và ông C đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, mặc dù sống chung nhà nhưng không ai quan tâm đến ai, vì vậy bà H yêu cầu được ly hôn với ông C.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị H xác định trong thời gian chung sống bà H và ông C có 03 con chung tên Nguyễn Văn B, sinh ngày 20-6-1999, Nguyễn Thị M, sinh ngày 20-08-2000 và Nguyễn Thị Minh N, sinh ngày 16-10-2007. Đối với cháu B và cháu M đã thành niên, phát triển bình thường không bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với cháu N bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo kết quả xác minh, ông C có hộ khẩu thường trú tại Xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, hiện nay ông C đang cư trú tại địa chỉ Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do; bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Trong quá trình tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H đối với ông C. Về con chung: Cháu Nguyễn Văn B, sinh ngày: 20-6-1999, Nguyễn Thị M, sinh ngày 20-08-2000 đã thành niên, phát triển bình thường không bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự, nên không xét đến, Giao cháu Nguyễn Thị Minh N, sinh ngày 16-10-2007 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ông C không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Theo đơn khởi kiện, bản tự khai bà H xác định yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, đối với ông C được xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông C tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, được cấp giấy chứng nhận kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo bà H thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cuối 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà H và ông C không còn thương yêu, thấu hiểu và đồng cảm với nhau, ông C không quan tâm, chăm sóc vợ con, nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bà H và ông C cũng đã sống ly thân với nhau từ năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà H xin ly hôn với ông C. Qúa trình tố tụng ông C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông C cố tình vắng mặt cho thấy không có thiện chí hòa giải đoàn tụ. Xét thấy, ông C không có thiện chí hàn gắn tình cảm, bà H kiên quyết xin ly hôn cho thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân Gia đình thì yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Thị Minh N, sinh ngày 16-10-2007, đến tuổi trưởng thành. Xét thấy cháu N cần sự chăm sóc của người mẹ và cháu N cũng có nguyện vọng ở với mẹ nên giao cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Bà H không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí sơ thẩm: Bà H là nguyên đơn nên phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Minh N, sinh ngày 16-10-2007 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), ông Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003973 ngày 05-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  6. “Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Long Đất;
  • - CCTHA dân sự huyện Long Đất;
  • - UBND xã Hòa Lộc, H. Hậu Lộc, T. Thanh Hóa (số 54, ngày 27-11-1998);
  • - Lưu hồ sơ vụ án...

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trường Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H-Nguyễn Văn C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger