Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07/11/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

giữa chị N và anh Ph”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng

Ông Lưu Xuân Tiến

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nguyệt – Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – N sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 90/2025/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh ngày 03/10/1976; (vắng mặt)
  • Số CCCD: [...]
  • Địa chỉ: Thôn T, phường V, tỉnh Ninh Bình.
  • - Bị đơn: Anh Vũ Thường P, sinh ngày 10/7/1980; (vắng mặt)
  • Số CCCD: [...]
  • Địa chỉ: Thôn T, phường V, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2025 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Vũ Thường P tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 31/5/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến tháng 5/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên can hòa giải nhưng không được. Từ tháng 02/2025 đến nay vợ chồng đã ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên chị N làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Thường P.

Về con chung: Chị N xác định vợ chồng có 02 con chung là Vũ Thùy L, sinh ngày 20/11/2004 và Vũ Nhật M, sinh ngày 15/12/2009. Hiện nay cháu L đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập, cháu M đang ở cùng anh P. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu M và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu anh P có nguyện vọng được nuôi con thì chị nhường quyền nuôi con cho anh P, vợ chồng tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chị đang làm phiên dịch viên cho Công ty T thu nhập hơn 20.000.000 đồng/tháng, đủ khả năng chăm sóc con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Vũ Thường P trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị N tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 31/5/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến tháng 5/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên can hòa giải nhưng không được. Từ tháng 02/2025 đến nay vợ chồng đã ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị N xin ly hôn, anh P đồng ý.

Về con chung: Anh P xác định vợ chồng có 02 con chung là Vũ Thùy L, sinh ngày 20/11/2004 và Vũ Nhật M, sinh ngày 15/12/2009. Hiện nay cháu L đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập, cháu M đang ở cùng anh. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu M, vợ chồng tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay anh đang làm nghề trồng cây và làm tự do tại nhà thu nhập khoảng 20.000.000 đồng/tháng, đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng anh tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Qua xác minh và thu thập tài liệu chứng cứ tại địa phương: Đại diện Ủy ban nhân dân phường V cho biết: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1976 và anh Vũ Thường P, sinh năm 1980 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 31 tháng 5 năm 2004. Chị N và anh P có 02 con chung là cháu Vũ Thùy L, sinh ngày 20/11/2004 và Vũ Nhật M, sinh ngày 15/12/2009 đều có đăng ký khai sinh tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Ninh Bình). Nay chị N làm đơn xin ly hôn với anh Vũ Thường P với nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm được. Vì theo quy định của pháp luật đương sự nộp đơn trực tiếp đến Tòa án mà không phải thông qua hòa giải cơ sở, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị N, anh Vũ Thường P vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung:

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, khoản 1 điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Thường P.
  2. Về con chung: Giao con chung là Vũ Nhật M sinh ngày 15/12/2009 cho anh P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị N anh P tự thỏa thuận. Chị N có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.
  4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật./.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Thường P đều có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Thường P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Ninh Bình) ngày 31 tháng 5 năm 2004. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

[3] Trong quá trình chung sống, giữa chị N và anh P nảy sinh mâu thuẫn; vợ chồng không có sự đồng cảm và chia sẻ với nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nếu có tiếp tục chung sống cũng không có tương lai. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, anh P nhất trí ly hôn chị Nguyễn Thị Na .

Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Thường P đã mâu thuẫn trầm trọng, từ khi ly thân đến nay hai bên cũng không tìm được biện pháp hàn gắn đoàn tụ nên nếu tiếp tục kéo dài thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Vũ Thường P.

[4] Về nuôi con chưa thành niên khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Thường P có con chung chưa thanh niên là Vũ Nhật M, sinh ngày 15/12/2009 hiện đang ở cùng anh P. Xét điều kiện, hoàn cảnh thực tế, đề nghị của các đương sự, ý kiến của con chung chưa thành niên, Hội đồng xét xử thấy: con chung đang được anh P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; cháu M có nguyện vọng được ở với anh P; chị N và anh P đề nghị khi ly hôn, giao con chung cho anh P được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, chị N anh P tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, đề nghị của các đương sự là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận. Chị N có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Thường P xác nhận vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N, anh Vũ Thường P được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Thường P.
  2. Về nuôi con chung chưa thành niên: Giao con chung là Vũ Nhật M sinh ngày 15/12/2009 cho anh Vũ Thường P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị N và anh P tự thỏa thuận. Chị N có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu số 0001549 ngày 10 tháng 10 năm 2025.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N, anh Vũ Thường P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh + khu vực;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND phường Vị Khê;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 07/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị N và anh Ph
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger