TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST Ngày: 02/6/2025 Về việc: Tranh chấp ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy
Bà Hà Thị Dung
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Hương Giang; Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Hương T, sinh năm 1998; nơi đăng ký thường trú: Xóm D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Le Thanh X, sinh năm 1997;
Quốc tịch: Cộng hòa Séc; số hộ chiếu: 43650725 do Văn phòng thành phố C cấp ngày 26/8/2016;
Nơi đăng ký thường trú: K, P, Cộng hòa S; xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Tạ Thị Hương T trình bày:
Chị Tạ Thị Hương T và anh Le Thanh X tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam vào năm 2023. Sau khi kết hôn, chị T làm thủ tục sang Cộng hoà Séc chung sống với anh X nhưng không được chấp nhận vì vướng mắc pháp lý từ phía Cộng hòa Séc. Chị T đề nghị anh X về Việt Nam chung sống, nhưng anh X không đồng ý, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Mỗi lần gọi điện hai bên đều cãi vã do bất đồng trong việc anh X không chịu về Việt Nam. Từ sau khi kết hôn đến nay, anh X về nước và chưa trở về Việt Nam thăm chị lần nào, anh chị đã sống ly thân từ đó tới nay. Chị T xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Le Thanh X.
Về con chung: Anh chị không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam đã có Văn bản uỷ thác tư pháp về dân sự số 02/UTTPDS ngày 11/3/2025, uỷ thác tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 62/TB-TLVA ngày 19/11/2024; Văn bản ủy thác tư pháp về dân sự số 01/UTTPDS ngày 11/3/2025 cho Cơ quan có thẩm quyền của Cộng hòa Séc để tống đạt văn bản tố tụng và thu thập ý kiến trình bày của anh Le Thanh X theo địa chỉ tại Cộng hòa S do nguyên đơn cung cấp. Ngày 01/4/2025, Bộ Tư pháp Việt Nam có Công hàm số 668/CH-BTP gửi Bộ Tư pháp Cộng hòa Séc hồ sơ uỷ thác tư pháp của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị tống đạt giấy tờ, thu thập, cung cấp chứng cứ đối với đương sự Le Thanh X; tuy nhiên đến nay vẫn chưa nhận được phản hồi về việc thực hiện ủy thác tư pháp.
Ngày 14/5/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận được bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giấy ủy quyền của anh Le Thanh X có chứng thực bản gốc và bản dịch của Đ tại Cộng hòa S. Nội dung anh Le Thanh X trình bày: Anh và chị Tạ Thị Hương T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam vào ngày 05/10/2023. Sau khi kết hôn, anh chị cùng nhau chung sống, sau đó anh trở về Cộng hòa S, chị T làm thủ tục xin visa thăm thân sang Cộng hòa Séc nhưng bị từ chối do vướng mắc pháp lý từ Cộng hòa Séc. Chị T đề nghị anh trở về Việt Nam sinh sống nhưng anh không đồng ý vì anh, gia đình và người thân của anh đều sinh sống và làm việc tại Cộng hòa S, anh không biết sẽ làm gì khi về Việt Nam sinh sống. Do đó, anh chị thường xuyên xảy ra bất đồng, cãi vã khi liên hệ với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh là do quan điểm sống khác nhau, thời gian tìm hiểu quá ngắn, anh chị đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Chị T làm đơn xin ly hôn, anh nhất trí ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh chị không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Anh Le Thanh X hiện đang sống và làm việc tại Cộng hòa Séc nên không thể đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam để giải quyết vụ án ly hôn, xin được xét xử vắng mặt anh tại các phiên tòa và phiên họp. Anh X ủy quyền cho anh Trương Bình A, sinh năm 1999, địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam nhận thay anh các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên liên quan đến việc giải quyết vụ án ly hôn của anh với chị T.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử, nguyên đơn và bị đơn đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 474, 476, 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Hương T, cho chị T được ly hôn với anh Le Thanh X; Về con chung, tài sản chung, nợ chung vợ chồng không có nên không xem xét. Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Chị Tạ Thị Hương T có địa chỉ thường trú ở xóm D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Anh Le Thanh X có quốc tịch Cộng hòa Séc, có nơi đăng ký thường trú tại K, 10000 P, Cộng hòa S. Chị T nộp trực tiếp đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản của chị Tạ Thị Hương T nộp tại Tòa án là đúng ý chí, nguyện vọng của chị T.
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Bị đơn anh Le Thanh X đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt Thông báo thụ lý và thu thập chứng cứ theo địa chỉ K, 10000 P, Cộng hòa Séc là địa chỉ được nguyên đơn cung cấp, đến nay chưa có kết quả. Tuy nhiên, anh Le Thanh X đã biết việc chị Tạ Thị H có đơn xin ly hôn với anh tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Anh X đã gửi các văn bản thể hiện quan điểm của mình về Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và có đơn xin xét xử vắng mặt. Các văn bản của anh X1 đều có chứng thực bản gốc và bản dịch của Đ tại Cộng hòa S. Chị Tạ Thị Hương T có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị T và anh X theo Điều 227, Điều 474, Điều 477 và Điều 478 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị Hương T và anh Le Thanh X đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam ngày 05/10/2023 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
- Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, chị T và anh X sống xa cách nhau, chị T không làm được thủ tục để sang đoàn tụ với anh X do vướng mắc các vấn đề pháp lý. Anh X và chị T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và đã ly thân từ năm 2003 đến nay. Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Tạ Thị Hương T và anh Le Thanh X đã kéo dài, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh X và chị T đều nhất trí ly hôn, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh Le Thanh X là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
- Về con chung: Anh chị xác định không có, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Anh chị đều xác định không có, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
- Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về lệ phí:
- Chị T phải chịu chi phí thực hiện ủy thác tư pháp 02 lần là 400.000 đồng (đã thực hiện xong).
Về chi phí tố tụng:
- Chị T phải chịu chi phí phiên dịch uỷ thác tư pháp là 3.900.000 đồng (đã thực hiện xong).
Về quyền kháng cáo:
- Quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, được chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 37, 38, 39, Điều 147; khoản 1 Điều 228, khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Tạ Thị Hương T đối với anh Le Thanh X.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị Hương T được ly hôn với anh Le Thanh X.
- Về con chung: các đương sự xác định không có, Toà án không xem xét, giải quyết.
- Tài sản chung, nợ chung vợ chồng: các đương sự xác định không có, Toà án không xem xét, giải quyết.
- Án phí: Chị Tạ Thị Hương T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000211 ngày 15/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
- Lệ phí: Chị T phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác thu thập chứng cứ và 200.000 đồng lệ phí ủy thác tống đạt giấy tờ nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 400.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0000261 ngày 04/3/2025; số 0000262 ngày 04/3/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
- Về chi phí tố tụng: Chị T phải chịu chi phí phiên dịch uỷ thác tư pháp là 3.900.000 đồng (đã thực hiện xong).
- Về quyền kháng cáo: Chị Tạ Thị Hương T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định; anh Le Thanh X có quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hoàng Quý Sửu |
Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 40 T X
