|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AB TỈNH KG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:40/2025/DSST
Ngày: 11-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AB, TỈNH KG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đen
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Hằng và ông Nguyễn Minh Trí
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều, Thư ký TAND huyện AB, tỉnh KG
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện AB, tỉnh KG tham gia phiên toà: Bà Lai Thị Ngọc Thúy-Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện AB, tỉnh KG xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2025/TLST-DS, ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29A/2025/QĐXX-ST, ngày 27 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 03/2025/QĐST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2025, thông báo về việc mở phiên tòa xét xử số: 03/2025/TB-MPT ngày 25 tháng 5 năm 2025 và thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 09/2025/TB-TĐTG ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP KL
Địa chỉ: Trụ sở chính: 40-42-44 Phạm Hồng T, phường Vĩnh Thanh V, Tp. RG, tỉnh KG.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, Chủ tịch HĐQT.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V, Chức danh: Giám đốc Văn phòng đại diện Ngân hàng TMCP KL tại thành phố HCM
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phan Hữu N, sinh năm 1989. Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ - phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP KL (có mặt)
- Đồng bị đơn: Bà Lê Thị KP, sinh năm 1968. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp XĐ1, xã ĐY, huyện AB, KG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2024 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP KL(sau đây gọi tắt là Ngân hàng), và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Phan Hữu N trình bày: Nguyên khách hàng có đề xuất vay vốn tại Ngân hàng TMCP KL– PGD AB số tiền là 20.000.000đ, theo Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số: 2173/20/T4/1011-00779 ngày 14/12/2020 với nội dung như sau: Hạn mức thẻ: 20,000,000 đồng, loại thẻ: JCB CREDIT CLASSIC - KHONG TSBD; Lãi suất vay: theo mức lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ, thời hạn vay: 36 tháng, phương thức trả nợ: Theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế; Điều kiện áp dụng: Theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm Thẻ tín dụng quốc tế.
Trong quá trình sử dụng dịch vụ thẻ khách hàng đã vi phạm hợp đồng, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở và khách hàng cũng đã cam kết nhưng không thực hiện đúng cam kết.
Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị KP phải thanh toán cho Ngân hàng KLsố tiền: 43.817.855₫ (Bốn mươi ba triệu, tám trăm mười bảy nghìn, tám trăm năm mươi lăm đồng) và lãi phát sinh từ ngày 28/02/2025 cho đến ngày thanh toán dứt nợ. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ thì Ngân hàng KLcó quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành án buộc khách hàng trả hết toàn bộ số tiền nợ Ngân hàng bao gồm gốc, lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký.
Tại phiên tòa, ngân hàng KLvẫn giữ yêu cầu như sau: Yêu cầu bà Lê Thị KP trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 11/6/2025 là vốn gốc 18.417.464₫, lãi phát sinh 14.189.124đ, phí phạt chậm trả 12.915.241đ, phí phạt vượt hạn mức 3.600.000đ, tổng cộng 49.121.829đ (Bốn mươi chín triệu, một trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm hai mươi chín đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 12/6/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn Lê Thị KP nhưng bà đều không có ý kiến phản hồi và vắng mặt tại các phiên họp, hòa giải và phiên tòa nên không có lời khai tại hồ sơ vụ án.
Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn trong vụ án là Ngân hàng TMCP KLkhởi kiện đối với bị đơn Lê Thị KP do vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ hợp đồng tín dụng. Căn cứ vào địa chỉ của bị đơn tại hợp đồng tín dụng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như địa chỉ của bị đơn hiện nay thuộc địa bàn huyện AB nên Tòa án nhân dân huyện AB thụ lý giải quyết vụ việc là phù hợp với các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng cho các bên đương sự trong vụ án, tuy nhiên đồng bị đơn Lê Thị KP đã vắng mặt tại các phiên họp, các phiên hòa giải và tại phiên tòa. Đồng bị đơn đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 1,2 điều 227 và khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các bị đơn là phù hợp theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngân hàng với bị đơn Lê Thị KP có ký hợp đồng với nhau số 2173/20/T4/1011-00779 ngày 14/12/2020 thông qua hình thức văn bản là giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank về việc mở thẻ tín dụng đã đảm bảo về mặt chủ thể ký kết, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với Bộ luật dân sự, Luật các tổ chức tín dụng, có sự ràng buộc với nhau giữa các bên ký kết.
[3.1] Trên cơ sở của hợp đồng, Lê Thị KP đã được giải ngân số tiền vay đúng như hợp đồng, tuy nhiên trong quá trình trả nợ thì Lê Thị KP chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Tại phiên tòa, Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu phía đồng bị đơn trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 11/6/2025 là vốn gốc 18.417.464₫, lãi phát sinh 14.189.124đ, phí phạt chậm trả 12.915.241đ, phí phạt vượt hạn mức 3.600.000đ, tổng cộng 49.121.829đ (Bốn mươi chín triệu, một trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm hai mươi chín đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 12/6/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ. Do đó, căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả toàn bộ số nợ 49.121.829₫ (Bốn mươi chín triệu, một trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm hai mươi chín đồng).
[3.2] Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc tiếp tục tính lãi suất theo hợp đồng kể từ ngày 12/6/2025 cho đến khi bị đơn Lê Thị KP thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên có cơ sở chấp nhận.
Trong vụ án này, bà Lê Thị KP đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, trong trường hợp Lê Thị KP không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay phát sinh từ hợp đồng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án nêu trên để thu hồi khoản vay nợ.
[4] Về án phí DSST: 49.121.829₫ x 5% = 2.456.000đ (Hai triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp toàn bộ số tiền án phí là 2.456.000đ (Hai triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 879.000đ theo biên lai thu số 0003498 ngày 06/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện AB.
[5] Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện AB tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1,2 điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP KLđối với Lê Thị KP. Buộc Lê Thị KP trả cho Ngân hàng TMCP KLsố tiền nợ tạm tính đến ngày 11/6/2025 tổng cộng là 49.121.829đ (Bốn mươi chín triệu, một trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm hai mươi chín đồng), trong đó nợ vốn gốc 18.417.464₫, lãi phát sinh 14.189.124đ, phí phạt chậm trả 12.915.241đ, phí phạt vượt hạn mức 3.600.000₫ và lãi suất phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/12/2020.
- Về án phí DSST: 2.456.000₫ (Hai triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Buộc bị đơn phải nộp toàn bộ số tiền án phí là 2.456.000₫ (Hai triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 879.000₫ theo biên lai thu số 0003498 ngày 06/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện AB.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 11/6/2025, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đen |
Bản án số 40/2025/DSST ngày 11/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện AB, tỉnh KG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 40/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện AB, tỉnh KG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Kl yêu cầu Lê Thị KP trả nợ vay
