|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2025/DS-ST Ngày 30 tháng 6 năm 2025 “V/v: Tr/c kiện đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
- - Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Sách và bà Phan Thị Nhụ
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nụ - Thư ký TAND thị xã Quế Võ
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp kiện đòi tài sản” thụ lý số 116/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39a/2025/QĐXXST- DS ngày 12 tháng 6 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 20 ngày 26/6/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Phan Văn V, sinh năm 1952 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Khu phố M, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh
- - Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962 (Vắng mặt)
- 2. Anh Nguyễn Thế T, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
- Cùng địa chỉ: Khu phố A, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án,nguyên đơn là ông Phan Văn V trình bày:
Ông và gia đình ông Nguyễn Văn Đ có quan hệ thông gia. Khi anh Nguyễn Thế T (con trai ông Đ) hỏi vay tiền ông thì ông đã không đồng ý. Sau đó, ông Đ và anh T có đến hỏi vay tiền ông. Do nể nang nên ông đồng ý cho vay nhưng với điều kiện nếu cả hai bố con ông Đ cùng xác nhận vay và cam đoan nếu không trả được tiền cho ông thì phải trả nhà đất cho ông thì ông mới đồng ý cho vay và bố con ông Đ đã đồng ý. Do đó, ngày 15/3/2021, ông đã mang tiền đến tận nhà ông Nguyễn Văn Đđể cho ông Đvà anh Nguyễn Thế Tvay số tiền là 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Mục đích vay theo ông Đ và anh T nói là để làm ăn; Thời hạn vay là 02 tháng và không thỏa thuận về lãi suất. Ngoài ra, hai bên còn thỏa thuận, nếu ông Đ và anh T không trả được tiền thì phải giao nhà đất cho ông quản lý và khi nào trả lại tiền thì ông trả lại nhà cho ông Đ và anh T. Tuy nhiên, đây là điều kiện ông đưa ra ở thời điểm lúc đó còn trên thực tế hai bên không ký với nhau hợp đồng thế chấp để vay tiền. Nhà và đất của vợ chồng ông Đ cũng không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho khoản vay trên.
Trong quá trình vay, anh T đã trả ông một phần số tiền vay là khoảng 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng). Số tiền anh T, ông Đ còn nợ lại là 1.300.000.000đ (Một tỷ ba trăm triệu đồng). Do anh T, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận nên ông đã phải đòi anh T, ông Đ rất nhiều lần nhưng ông Đ và anh T vẫn cố tình không trả.
Do thời gian ông Đ và anh T vay tiền của ông đã lâu mà không có trách nhiệm thanh toán trả ông nên đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Thế T cùng có trách nhiệm thanh toán trả ông số tiền còn nợ là 1.300.000.000đ (Một tỷ ba trăm triệu đồng).
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu nào khác.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết, tòa án đã tống đạt hợp lệ và triệu tập ông Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Thế T đến Tòa án lấy lời khai nhưng ông Đ và anh T không đến Tòa án giải quyết. Tòa án đã xác minh tại địa phương. Theo biên bản ghi lời khai thì bà Nguyễn Thị H (vợ của ông Nguyễn Văn Đ) trình bày:
Bà là vợ của ông Nguyễn Văn Đ và mẹ đẻ anh Nguyễn Thế T. Hiện chồng và con trai bà đang có hộ khẩu tại địa phương, chồng bà thường sáng đi làm và tối về còn anh T đi làm thi thoảng mới về.
Đối với việc vay tiền của T với ông Phan Văn V như thế nào thì bà không biết còn chồng bà là người lao động bình thường nên không vay tiền của ông V. Chồng bà ở nhà có nhận được giấy báo của Tòa án nhưng các con bà bảo chồng bà không liên quan nên không phải đến Tòa làm việc nên chồng bà không đi. Trước đây, ông V có đến đòi tiền Tài nhiều lần nhưng con bà có nói đã trả tiền nhiều lần rồi và số tiền còn nợ không đến số tiền ông V đòi, còn chồng bà không liên quan gì. Sau nhiều lần ông V đến đòi tiền Tài và bị gia đình bà không nhất trí thì đến nay ông V không đến nữa.
Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Đ và anh T không đến, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Đ và anh T hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt và đã có đơn xin được xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình giải quyết, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn số tiền 1.300.000.000₫ (Một tỷ ba trăm triệu đồng). Đối với bị đơn, mặc dù đã được tống đạt giấy báo hợp lệ lần thứ hai nhưng ông Đ và anh K vắng mặt không có lý do.
Đại diện VKSND thị xã Quế Võ tham gia phiên toà nhận xét:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục.
Nguyên đơn thực thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn không thực hiện đúng các quy định theo Điều 70,72 Bộ luật tố tụng dân sự và tự từ bỏ quyền lợi của mình.
Về nội dung: Áp dụng khoản 2 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 163, 164, 166, 221, 223 Bộ luật dân sự năm 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Đỉnh chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc ông Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Thế T phải có trách nhiệm thanh toán trả ông Phan Văn V số tiền 1.300.000.000đ (Một tỷ ba trăm triệu đồng) .
- Án phí: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn Đ.
- Anh Nguyễn Thế T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của phảp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Tại thời điểm thụ lý vụ án, ông Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Thế T cư trú tại khu phố A, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh nên Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ án theo đúng quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tháng 3/2021, giữa ông Phan Văn V với ông Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Thế T đã xác lập hợp đồng vay tài sản (Biên nhận vay tiền) có thời hạn và không ghi lãi suất. Theo giấy biên nhận vay tiền và trình bày của nguyên đơn, nhận thấy ông Đ và anh T vi phạm nghĩa vụ từ tháng 5/2021 nhưng đến tháng 12/2024 thì ông V mới phát sinh yêu cầu khởi kiện. Như vậy, tính đến thời điểm thụ lý vụ án đã được trên 03 năm. Nguyên đơn xác định đã hết thời hiệu khởi kiện về hợp đồng nên đề nghị buộc ông Đ và anh T thanh toán trả khoản tiền gốc vay còn lại, không yêu cầu về lãi suất. Do đó, tòa án xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin được xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp:
Theo giấy biên nhận vay tiền đề ngày 15/3/2021 thể hiện nội dung vợ chồng ông Đ và vợ chồng anh Nguyễn Thế T (con trai ông Đ) có vay tiền của ông V ở M một số tiền để làm ăn. Số tiền vay là 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu trăm triệu đồng). Thời gian thanh toán là 02 tháng. Ngoài ra, nội dung biên nhận vay tiền có ghi “Sau khi trả hết tiền thì xong công việc. Nếu không trả được số tiền trên thì bố con ông Đ chấp nhận giao nhà đang ở thôn A cho ông V quản lý, sử dụng. Khi nào trả lại tiền, ông V trả lại nhà cho ông Đ”.
Căn cứ vào giấy biên nhận vay tiền thể hiện nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 1.600.000.000đ (Một tỷ sáu trăm triệu đồng), không có thỏa thuận về lãi suất và có thời hạn thanh toán là 02 tháng, mục đích vay để làm ăn. Giấy biên nhận vay tiền thể hiện ông Đ và anh T đã ký và ghi rõ họ tên. Nhận thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn có thực hiện giao dịch vay tiền là có thật.
Quá trình giải quyết, ông V có trình bày đã đến nhà ông Đua đòi tiền nhiều lần, ban đầu ông Đ, anh T có hẹn và khất nợ nhưng sau đó thì không phối hợp, ông liên lạc không được. Lời trình bày của ông V cũng được lời khai của bà H (vợ ông Đ) xác nhận việc ông V đến nhà bà đòi tiền ông Đ và anh T nhiều lần nên có cơ sở xác định việc ông V cho ông Đ và anh T vay tiền là có thật.
Theo nguyên đơn, quá trình vay bị đơn đã thanh toán trả nguyên đơn số tiền 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng). Mặc dù hai bên không viết giấy biên nhận để xác nhận việc đã thanh toán nhưng theo nguyên đơn việc anh T đã thanh toán số tiền cho ông là đúng và ông sẽ đối trừ số tiền này vào số tiền mà anh T và ông Đ đã vay của ông và rút một phần yêu cầu khởi kiện đòi ông Đ và anh T số tiền là 1.300.000.000đ (Một tỷ ba trăm triệu đồng).
Quá trình giải quyết, bị đơn không phối hợp, cố tình trốn tránh nhưng nguyên đơn vẫn xác nhận số tiền bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn. Đối với số tiền bị đơn đã thanh toán, mặc dù hai bên không có tài liệu cung cấp cho Tòa án để chứng minh nhưng đã được nguyên đơn xác nhận. Nhận thấy việc xác nhận của nguyên đơn có lợi cho bị đơn nên cần chấp nhận.
Quá trình giải quyết, ông Đ và anh T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến làm việc, không có văn bản ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, việc ông Đ và anh T cố tình vắng mặt và không có lý do chứng tỏ bị đơn từ bỏ quyền của mình về việc được nêu quan điểm, ý kiến và cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh. Theo Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như các tài liệu mà Tòa án xác minh, thu thập được để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Do đó, ông V khởi kiện yêu cầu ông Đ và anh T phải trả số còn nợ là 1.300.000.000₫ là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về lãi suất: Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Trong giấy biên nhận vay tiền có ghi nội dung “Hôm nay, ngày 15/3/2021, vợ chồng ông Đ và vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ và vợ chồng cháu Nguyễn Thế T là con trai ông Đ có vay tiền của ông V”. Tuy nhiên, trong giấy biên nhận vay tiền chỉ có ông Đ và anh T ký nhận, vợ ông Đ và vợ anh T không ký vào giấy biên nhận vay tiền. Quá trình giải quyết, nguyên đơn xác nhận việc vay tiền chỉ được thực hiện dựa trên giao dịch giữa ông với ông Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Thế T và không liên quan đến vợ ông Đ và vợ anh T. Việc ghi nội dung trên vào giấy biên nhận là do ông muốn gắn trách nhiệm của gia đình nhưng thực tế thì vợ ông Đ và vợ anh T không vay tiền của ông nên ông không có bất cứ yêu cầu gì với họ. Do đó, Tòa án không đưa bà H (vợ ông Đ) và vợ anh T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.
Đối với nội dung trong giấy “Biên nhận vay tiền” ghi “Sau khi trả hết tiền là xong công việc. Nếu không trả được số tiền trên thì bố con ông Đ chấp nhận giao nhà đang ở thôn A cho ông V quản lý, sử dụng. Khi nào trả tiền ông V trả lại nhà cho ông Đ và hai bên không kiện cáo gì”. Theo ông V, lý do viết nội dung này là do hai bên khi cho nhau vay mượn tiền có thỏa thuận như vậy, mục đích để đảm bảo cho số tiền mà ông cho vay, còn thực tế hai bên không có hợp đồng thế chấp tài sản, không ghi cụ thể số thửa, tờ bản đồ và không có người liên quan đến thửa đất xác nhận. Do đó, ông không đề nghị xử lý đến vấn đề tài sản mà chỉ đề nghị đòi tiền đối với ông Đ và anh T. Do đó, tòa án không xem xét nội dung về tài sản trong giấy biên nhận vay tiền được xác lập giữa ông V với ông Đ và anh T là phù hợp.
Án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Đ và anh T mỗi người phải chịu ½ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng đối với ông Nguyễn Văn Đ hiện đã trên 60 tuổi. Theo quy định của Luật người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên ông Đ thuộc trường hợp được miến án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 2 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 163, 164, 166, 221, 223 Bộ luật dân sự năm 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- - Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Buộc ông Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Thế T có nghĩa vụ, trách nhiệm thanh toán trả ông Phan Văn V số tiền 1.300.000.000đ (Một tỷ ba trăm triệu đồng).
- - Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự;
- - Về án phí: Anh Nguyễn Thế T phải chịu 25.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn Đ
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự vắng được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 40/2025/DS-ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 40/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn V - Nguyễn Văn Đ - tranh chấp kiện đòi tài sản
